ĐẠI BÀNG TINH NÚI BA VÌ - Chương 49: Mũi Tên Thứ Ba
Sáng 16/04, lễ tạ ở đền Thượng diễn ra gọn và trang nghiêm. Không có mâm cao cỗ đầy, không có loa đài. Trên khoảng sân đá trước đền chỉ có đại diện thôn…
Nội dung chương
Sáng 16/04, lễ tạ ở đền Thượng diễn ra gọn và trang nghiêm.
Không có mâm cao cỗ đầy, không có loa đài. Trên khoảng sân đá trước đền chỉ có đại diện thôn Yên Sơn do Thịnh dẫn đầu, đội kiểm lâm của Khoa trong đồng phục chỉnh tề, gia đình họ Hà gồm Thân, Sen và Quân, cùng vài người già trong thôn đủ sức leo lên tới đỉnh từ sáng sớm. Bà Mùi mặc áo dài nâu sẫm, tóc vấn gọn, đứng bên cửa đền như bà đã đứng trong không biết bao nhiêu lễ lạt của vùng này, bình thản và đúng mực. Mùi hương trầm trong đền quyện với mùi sương sớm chưa tan hết trên đỉnh Ngọc Hoa, và từ sân đền nhìn ra phía vách đông, tảng đá chim đen nằm lặng trong nắng đầu ngày, sải cánh nửa xòe, như một vị khách đặc biệt cũng đang dự lễ từ xa mà không cần ai mời.
Phần lễ chính do bà Mùi chủ trì theo lệ cũ của đền.
Bà đọc một bài văn tạ ngắn chép trong sổ đền, cảm ơn núi rừng đã cho người sống trở về, xin cho người chết trong vụ này, từ cụ Cừ, anh Hợi, anh Nam, hai anh em họ Trần cho tới hai mươi ba người vô danh trong hang, được yên nghỉ và được nhớ tới đúng tên hoặc, nếu không còn tên, được nhớ tới như những người đã từng sống dưới chân núi này. Khi bà đọc tới đoạn xin núi nhận lại sự yên tĩnh của nó, Thân đứng ở hàng đầu bỗng thấy mắt mình cay lên một cách lặng lẽ. Ông đã lên đỉnh núi này trong mười ngày với tư cách một người đi săn một con thú. Sáng nay ông đứng đây với tư cách một người đi tạ lỗi và tạ ơn, và sự thay đổi ấy, ông biết, là thay đổi lớn nhất của cả vụ việc đối với riêng ông.
Tới phần dâng lễ vật, Đức bước lên trước ban thờ.
Anh đi bằng hai tay nâng ống tên dự phòng, ống tên anh đã giữ bên mình từ Mỏm Hang qua đêm quyết chiến, xuống chân vách, xuống thôn và lên lại đỉnh sáng nay theo đúng lời dặn của Thân từ chiều 12/04 ở sân trạm: mũi Ba là dự phòng cho họ Hà, nếu Thân ngã, phải mang nguyên vẹn về, không được tự bắn. Đức đặt ống tên vào tay Thân trước mặt mọi người, nói một câu ngắn gọn như báo cáo mà ai nghe cũng hiểu là một lời hứa đã giữ trọn: ống tên nguyên vẹn, mũi Ba chưa từng rời ống, giao lại cho người giữ nỏ. Thân nhận ống bằng cả hai tay. Tay phải ông vững, tay trái đỡ ở đáy ống, và trong một thoáng ông nhớ lại cả ba mũi tên đã nằm chung trong ống này ở đầu vụ việc, xếp lên khăn trắng trên bàn giữa nhà trong đêm ông kể lai lịch bảy mũi cho Quân nghe. Bây giờ một mũi nằm dưới Vực Sương, một mũi nằm trong họng đá trên miệng hang phía sau đền, và mũi cuối cùng đang nằm trong tay ông.
Thân tự tay rút mũi Ba ra khỏi ống và đặt nó lên chiếc khay gỗ đã chờ sẵn trước ban thờ đền.
Mũi tên đồng ba cạnh nằm gọn trên mặt khay sẫm màu, đầu tên ánh lên màu đồng cũ dưới ánh nến, thân tên thẳng và nguyên vẹn như ngày cụ tổ Hà Văn Quảng nhặt nó lên từ lòng suối Đá Chông năm 1897. Bà Mùi thắp thêm ba nén hương cắm vào bát hương trước khay, khói hương bay thẳng trong gian đền không gió. Thân đặt khay xuống, lùi lại một bước, chắp tay trước ban thờ và nói lời tuyên bố của họ Hà trước mặt bà Mùi, đại diện thôn, đội kiểm lâm và con cháu của chính mình. Ông nói chậm, rõ từng chữ, như đọc một điều vừa được thêm vào tổ huấn.
- Từ hôm nay, mũi tên này ở lại đền Thượng làm lễ vật trấn giữ. Họ Hà từ nay giữ lệ và giữ câu chuyện, chứ không giữ nghiệp săn nữa. Trên đời này không còn ai của họ Hà bắn tên Cổ Loa thêm một lần nào.
Cả sân đền im lặng sau câu nói ấy. Sen đứng phía sau cha, hai tay nắm chặt lấy nhau. Quân nhìn ông ngoại không chớp mắt. Khoa khẽ gật đầu một cái, như người ghi nhận một quyết định đã khóa vào hồ sơ theo một cách mà không cuốn sổ hành chính nào ghi được. Thân biết quyết định này có nghĩa là gì: bốn đời thợ săn của họ Hà, từ cụ tổ Quảng qua ông nội ông, qua cha ông, tới ông, chính thức khép lại ở đời ông, trên cái đỉnh núi đã lấy đi một đời trong số đó. Ông không thấy tiếc. Một nghiệp giữ được núi yên thì đáng giữ. Một nghiệp chỉ còn lại những ngôi mộ và những phát tên phải bắn trong nước mắt thì đã tới lúc đặt xuống, đặt ngay ngắn lên một chiếc khay gỗ trước ban thờ, như đặt xuống một vật đã hoàn thành phần việc của nó.
Tiếp đó, Thân trao cho bà Mùi chiếc lông thép.
Đó là chiếc lông đen dài ông nhặt được ở hiện trường xác thú trên chạc cây sáng 03/04, chiếc lông đã cắm sâu vào thân cây, cứng và sắc như lưỡi dao, cứa đứt da tay ông ngay lần đầu cầm tới. Suốt mười ba ngày qua nó nằm trong túi áo ngực của ông, đi qua Mỏm Sáo, qua Vực Sương, qua Mỏm Hang và qua đêm rằm, như vật chứng đầu tiên của vụ việc và cũng như một lời nhắc không cho ông quay lưng. Bà Mùi nhận chiếc lông bằng cả hai tay, cẩn trọng như nhận một vật sắc, rồi gọi người phụ việc của đền mang ra chiếc khung gỗ nhỏ đã đóng sẵn từ chiều hôm qua. Bà tự tay cắm chiếc lông vào khung, dựng đứng, và đặt khung gỗ ngay bên cạnh ban thờ, phía dưới khay đựng mũi Ba. Từ nay, ai lên đền Thượng cũng sẽ nhìn thấy hai vật ấy nằm cạnh nhau: mũi tên cuối cùng của họ Hà và chiếc lông đầu tiên của con điểu, một cặp vật chứng kể lại toàn bộ câu chuyện mà không cần một chữ nào.
Bà Mùi mở cuốn Tản Viên tạp lục ra ngay trước mặt mọi người và ghi những dòng cuối của vụ Kim Xí.
Bà ghi bằng bút mực, nét chữ nhỏ và đều của một người đã ghi sổ đền mấy chục năm. Bà đọc lại thành tiếng cho cả sân đền nghe khi viết xong: đêm 31/03 năm Ất Tỵ, sét đầu mùa đánh trúng chóp Ngọc Hoa, Kim Xí thức giấc sau giấc ngủ dài. Nó ăn thú rừng và gia súc quanh đỉnh, giết người đi rừng, và tới đêm rằm tháng 3, ngày 12/04, nó chết trên miệng hang của mình, hóa thành đá đen ngay khi chết, bởi một phát tên Cổ Loa của Hà Văn Thân, thợ săn giữ nỏ đời thứ tư của họ Hà thôn Yên Sơn, ở tuổi bảy mươi hai. Dưới những dòng ấy bà ghi thêm tên những người đã chết trong vụ và dòng cuối cùng dành cho tảng đá: từ nay dân quanh vùng gọi tảng đá trên đỉnh là Đá Chim, mũi tên thứ hai còn găm trong họng đá, mũi thứ ba giữ ở đền này. Khoa đứng nghe, khẽ nói rằng hồ sơ của trạm sẽ ghi khô khan hơn nhiều, nhưng sổ của đền thì ghi được cả những điều hồ sơ không ghi nổi. Bà Mùi đáp rằng việc của hồ sơ là cho người trên, việc của sổ đền là cho người sau.
Chiều hôm ấy, về tới thôn, cây nỏ thần được treo lên xà nhà thờ họ Hà.
Thân tự chọn vị trí: thanh xà ngang phía trên bàn thờ tổ, nơi cao nhất và khô nhất của gian thờ, nhìn xuống được toàn bộ nhà thờ họ. Đức bắc thang, Sen đỡ chân thang, Quân nâng cây nỏ lim bọc đồng bằng cả hai tay đưa lên cho ông ngoại đứng trên ghế đẩu đặt vào hai móc gỗ đã đóng sẵn. Cây nỏ được treo nguyên như khi nó còn đi săn, không bọc kín trong vải, không cất vào rương, dây nỏ thả lỏng, thân nỏ ánh lên màu gỗ lim sẫm và những đai đồng cũ trong ánh sáng chiều hắt qua cửa nhà thờ họ. Treo xong, Thân đứng dưới đất ngẩng nhìn nó một lúc lâu. Bốn mươi hai năm nó nằm trong rương dưới bàn thờ vì ông không dám nhìn. Từ nay nó treo trên bàn thờ vì ông không cần trốn nữa. Nó là đồ thờ của họ Hà từ hôm nay, không còn là vũ khí của bất kỳ ai.
Quân đứng ngắm cây nỏ rất lâu, rồi quay sang nói với Khoa, người theo đoàn xuống thôn và ghé vào nhà thờ họ thắp hương trước khi về trạm.
Cậu nói cậu đã nghĩ suốt mấy ngày nay, từ đêm ngồi giữ bộ đàm ở chân vách tới sáng nhìn tảng đá chim trên mỏm. Cậu không nối nghiệp săn của ông cha, nghiệp ấy ông ngoại vừa đặt xuống ở đền sáng nay và cậu tôn trọng việc đặt xuống ấy. Cậu muốn theo đội kiểm lâm làm tập sự, học nghề giữ rừng đàng hoàng, giữ núi này bằng cách của thời mình: bằng camera bẫy, bằng tuần tra, bằng sổ sách và bằng cả những câu chuyện ông ngoại kể, để đời sau biết trên đỉnh Ngọc Hoa từng có gì và vì sao không ai được quên. Khoa cười, gật đầu nhận lời, nói trạm đang thiếu người trẻ thuộc rừng như cậu, tuần sau lên trạm làm quen việc. Sen đứng bên cạnh nghe con trai nói, không ngăn một lời nào, chỉ đưa tay sửa lại cổ áo cho cậu như mọi buổi sáng cậu đi học.
Đêm xuống trên thôn Yên Sơn, Thân ngồi một mình ở hiên nhà thờ họ, nhìn lên phía đỉnh núi đã tối hẳn, và nhớ lại câu cuối cùng bà Mùi nói với ông sáng nay, khi bà khép cuốn sổ đền lại sau khi ghi xong những dòng cuối của vụ việc.
- Sách của đền đời này ghi đủ rồi. Đời sau có ai đọc, họ sẽ biết núi này đã yên vì ai.