ĐẠI BÀNG TINH NÚI BA VÌ - Chương 43: Đêm Trên Mỏm

Việc xuống núi ngay trong đêm bị gạt đi trong vòng một câu nói của Đức, và Thân không phản đối. Trận đá lở lúc con điểu rơi đã làm mặt dốc phía dưới Mỏm…

Nội dung chương

Việc xuống núi ngay trong đêm bị gạt đi trong vòng một câu nói của Đức, và Thân không phản đối.

Trận đá lở lúc con điểu rơi đã làm mặt dốc phía dưới Mỏm Hang thay đổi hẳn: đất và đá vụn phủ kín một đoạn đường mòn mà hai người đã leo lên lúc chiều, vài tảng đá mới lở còn nằm chênh vênh ở mép trượt, chỉ chờ một bước chân dẫm nhầm là trôi theo. Sương đêm sau nửa đêm lại dày lên từng đợt, dày hơn cả lúc chờ điểu quay về, nuốt chửng quầng đèn pin trong vòng vài mét. Đức soi đèn xuống đoạn dốc một lần, nhìn rất lâu, rồi tắt đèn và nói gọn: đi bây giờ là đi bừa, chú cháu mình vừa thoát chết vì một con điểu, không thể chết vì một hòn đá trong sương được. Thân gật đầu. Ông biết con dốc ấy thuộc như lòng bàn tay, nhưng thuộc đường và nhìn thấy đường là hai việc khác nhau, nhất là với một người bảy mươi hai tuổi, vai trái vừa tái rách, và một đêm không ngủ đã gần trọn. Khoa ở chân vách, nghe Đức báo lại qua bộ đàm, đồng ý ngay: hai người giữ vị trí trên mỏm tới sáng, trạm dưới chân vách thức cùng, tới giờ hẹn sẽ gọi bộ đàm một lần.

Hai người quây một bếp lửa nhỏ sau tảng đá lớn, khuất gió.

Lửa không lớn, chỉ đủ hong đôi bàn tay và giữ một vòng sáng nhỏ trên mặt đá lạnh, vì củi khô trên mỏm không có nhiều và vì cả hai đều quen lệ núi: lửa trên cao trong đêm chỉ nên vừa đủ cho người, không nên thành một đốm sáng gọi thú dữ tới, dù con thú dữ duy nhất của dãy núi này đang nằm cách họ vài chục mét và không còn gọi được nữa. Đức lấy trong ba lô ra gói cơm nắm Sen đã chuẩn bị cho cha từ đêm họp thôn, chia đôi; Thân ăn chậm, nhai kỹ, phần nhiều là vì ngón tay cái trái vừa cắn rách làm ông phải cầm nắm cơm bằng tay phải. Đức lấy khăn băng sạch trong túi cứu thương, thay lại phần băng trên vai trái cho ông dưới ánh lửa: vết khâu sáu mũi từ sáng 11/04 bị lông thép quẹt tái rách một đường, máu đã thấm khô ở mép băng cũ, nhưng đường khâu chính vẫn giữ, da thịt không toác thêm. Đức băng lại gọn, thắt nút chắc, và nói mai xuống núi việc đầu tiên là đưa chú vào trạm xá khâu lại đàng hoàng. Thân nói ừ, để mai.

Đúng giờ hẹn, bộ đàm rè lên một lần duy nhất trong đêm. Giọng Khoa từ chân vách hỏi tình hình trên mỏm, giọng nén xuống rất khẽ như sợ làm động một thứ gì trên cao. Đức báo gọn: hai người an toàn, vai chú Thân đã băng lại, sương dày, giữ vị trí tới sáng, đề nghị chân vách cũng giữ im lặng theo đúng lệ cả đêm đã giữ. Trước khi buông máy, Thân nghe loáng thoáng ở đầu kia một giọng trẻ chen vào hỏi một câu gì đó rồi bị Khoa gạt đi ngay; ông đoán đó là Quân, thằng cháu ngoại mười sáu tuổi của ông đang thức trắng ở chân vách trong một đêm mà đáng lẽ nó phải được ngủ yên ở nhà bên cạnh mẹ nó. Ông không gọi lại để hỏi. Có những đêm, việc tốt nhất người lớn làm được cho con trẻ là để chúng ở đúng vị trí an toàn mà người lớn đã xếp cho chúng, và làm cho xong phần việc của mình ở trên cao.

Đức tắt bộ đàm, đặt nó xuống mặt đá giữa hai người, rồi nhìn về phía ống tên dự phòng đang dựa vào ba lô của anh, nơi mũi Ba nằm nguyên vẹn trong bóng tối. Anh hỏi, nửa như một câu hỏi chuyên môn, nửa như không phải: thế còn mũi kia, chú tính sao. Thân đáp không cần nghĩ: nó về nhà thờ họ, nguyên vẹn như lúc nó đi lên núi này. Đêm nay họ Hà chỉ bắn một phát, và phát ấy đã bắn rồi. Phần còn lại của ống tên không thuộc về đêm nay nữa. Đức gật đầu, kéo ba lô lại gần mình hơn một chút, và từ đó không ai nhắc tới mũi Ba thêm lần nào trong suốt đêm.

Suốt đêm, trong ánh lửa ấy, hai người thay nhau canh chừng thân con điểu đang hóa đá dần.

Không phải canh nó sống lại. Cả hai đều hiểu điều đó, dù không ai nói thành lời trong những giờ đầu. Họ canh như người ta canh một việc lớn đang diễn ra trước mắt mà đời người chỉ chứng kiến được một lần, và như một bổn phận cuối cùng của người thợ săn với con thú mình vừa giết: ở lại với nó cho tới khi mọi việc xong hẳn. Lớp xám đá, từ cổ, đã lan hết qua phần ngực rộng của nó ngay trong giờ đầu tiên sau nửa đêm. Sau đó nó bò xuống đôi cánh đang xòe dở: cánh bên phải gập dọc theo vách hóa trước, từng hàng lông thép dài tắt ánh kim loại theo một vệt lan đều, nhìn trong bóng tối như một đám cháy ngược, cháy tới đâu thì để lại đá ở đó. Cánh bên trái nâng nửa chừng hóa chậm hơn, như thể sức sống cuối cùng của nó tụ lại ở đó lâu hơn. Thỉnh thoảng, từ trong thân đá mới, một tiếng nứt rất nhỏ vang ra, tách, khô và khẽ, như tiếng băng nứt trên mặt hồ vào một đêm đông đứng gió ở quê nhà thời Thân còn nhỏ. Mỗi lần tiếng nứt vang lên, Đức lại ngẩng đầu khỏi bếp lửa nhìn về phía miệng hang, tay đặt sẵn lên ba lô, rồi lại bỏ tay xuống. Thân nói, sau lần nứt thứ ba hay thứ tư gì đó: đá nó đang khép lại thôi, không phải nó cựa đâu. Đức gật đầu, nhưng tới lần nứt tiếp theo anh vẫn ngẩng đầu lên như cũ, và Thân không nói gì thêm, vì chính ông cũng đang làm y như thế.

Ngồi bên lửa, khi đêm đã về khuya và sương chỉ còn lảng vảng từng mảng mỏng trên mặt đá, Thân kể cho Đức nghe nốt phần cuối của chuyện năm 1983.

Ông đã kể chuyện trận săn năm ấy nhiều lần trong mười ngày qua: ở Mỏm Sáo trong đêm chờ thứ nhất, ở sân trạm trong lời thú nhận chiều 12/04. Nhưng phần ông kể đêm nay là phần ông chưa từng kể hết cho ai, kể cả Sen, kể cả chính mình trong những đêm mất ngủ. Sau khi cha ông bị con điểu quắp lên hang, khi đội tìm kiếm của xã năm ấy đã rút hết xuống núi và gia đình bắt đầu bàn chuyện lập mộ gió, Thân, ba mươi tuổi, vẫn quay lại chân vách phía đông một mình, ba lần trong tháng đó.

- Lần đầu tôi quay lại là sau ba ngày, ông nói, mắt nhìn vào lửa. Tôi mang theo một sợi dây và một con dao, nghĩ bụng nếu leo không nổi thì gọi. Tôi đứng dưới chân vách, ngửa cổ gọi tên cha tôi vào miệng hang trên cao. Gọi từ lúc sương còn dày tới lúc nắng lên. Đáp lại tôi chỉ có im lặng. Không tiếng cánh, không tiếng đá lăn, không một tiếng gì của người. Lần thứ hai cách đó một tuần, tôi gọi tới khản cả giọng, tối về không nói được với ai một câu. Lần thứ ba, tôi không gọi nữa. Tôi chỉ đứng nghe. Tôi nghĩ nếu cha tôi còn sống ở một xó nào trên đó, thế nào cũng có một tiếng gì. Vẫn chỉ có im lặng thôi, Đức ạ. Núi này rộng, mà cái im lặng năm ấy nó rộng hơn núi.

Đức ngồi im rất lâu sau câu chuyện ấy. Rồi anh hỏi một câu mà cả mười ngày qua chưa ai hỏi ông, kể cả chính ông tự hỏi mình trong những đêm nằm nghe tiếng rít từ đỉnh vọng xuống.

- Chú bắn phát tên đêm nay là để trả thù cho cụ, phải không chú.

Thân lắc đầu chậm rãi.

- Không. Thù hận thì bốn mươi hai năm cũng nguội rồi, Đức ạ. Người ta không giữ nổi một mối thù nóng suốt bốn mươi hai năm đâu; nó nguội đi cùng với tóc bạc và mắt mờ, chỉ còn lại cái nợ chưa trả được và ngôi mộ không có người nằm trong nhà. Tôi bắn phát tên đêm nay không phải vì cha tôi. Tôi bắn vì dưới chân núi này có những đứa trẻ đang lớn lên trong những ngôi nhà có bàn thờ, và tôi không muốn một đứa nào trong chúng phải có một ngôi mộ gió trong nhà như nhà tôi đã có suốt bốn mươi hai năm. Hợi nó đi rồi, nó để lại một đứa con gái sắp cưới. Đáng lẽ nhà nó cũng sắp có một ngôi mộ gió nếu đêm nay tôi lại khựng tay như ở Mỏm Sáo. Tôi khựng một lần rồi. Cái giá của lần khựng ấy tôi biết rõ hơn ai hết.

Ông nói xong thì im lặng, và Đức cũng không nói thêm gì nữa. Hai người ngồi bên bếp lửa tàn dần, nghe tiếng đá nứt nhỏ vang ra đều đặn từ thân con điểu như nghe một chiếc đồng hồ của núi đang đếm nốt những giây cuối cùng của một việc rất dài.

Có một lúc, vào khoảng giữa đêm, Thân gượng đứng dậy đi một vòng chậm quanh phần thân điểu nằm ngoài miệng hang, phần việc mà ban ngày chắc chắn ông sẽ không làm gần đến thế. Ông đi rất chậm vì vai đau và vì sương phủ mặt đá trơn, tay phải vịn từng mỏm đá một. Đôi vuốt cong dài bốn mươi phân của nó, thứ đã quắp trâu, quắp người qua mười ngày kinh hoàng của cả một vùng chân núi, giờ buông thõng trên mép đá và đang cứng lại từ đầu vuốt lên, móng sừng đen đổi màu xám theo từng đốt. Cái mỏ khoằm bằng đồng xỉn, thứ đã cắm thủng được đá tảng theo lời sách đền chép, hé nửa và bất động, hơi thở tanh nồng tỏa ra từ miệng hang sau lưng nó giờ chỉ còn là mùi tanh cũ của hang đá, không còn hơi ấm của một con thú sống nữa. Thân đứng nhìn đôi vuốt ấy lâu nhất. Ông nghĩ tới bốn vết móng song song cách nhau mười hai phân trên thân cây ở hiện trường ngày đầu tiên, tới vệt vuốt trên báng khẩu súng gãy của Hợi, và tới việc từ sáng mai, những dấu vết như thế sẽ chỉ còn là chuyện cũ để đo đạc và ghi sổ, chứ không còn là dấu hiệu báo trước một đêm mất ngủ nào nữa.

Gần sáng, tiếng nứt cuối cùng vang lên từ đầu cánh bên trái.

Nó khẽ hơn mọi tiếng nứt trước đó, như một tiếng thở ra. Sau nó, không còn tiếng nứt nào nữa, dù hai người ngồi chờ thêm rất lâu trong ánh sáng đang hửng dần ở phía đông. Lớp xám đá đã lên tới đầu cánh cuối cùng, phủ kín chiếc lông thép cuối cùng còn ánh kim loại. Thân đứng dậy, đi ra khỏi vòng lửa, bước chậm tới gần miệng hang trong sương sớm và nhìn thân con điểu đã thành đá trọn vẹn: sải cánh nửa xòe, cổ vươn, mũi tên đồng còn găm trong họng đá. Ông đứng đó cho tới khi Đức ra đứng cạnh, hai người cùng nhìn, không ai nói một lời nào.

Trời hửng sáng. Sương tan dần khỏi vách đông Ngọc Hoa, từng lớp một. Và lần đầu tiên sau mười ngày, trên vách núi yên tĩnh ấy, có tiếng chim rừng hót trở lại.

Chương khác

Xem thêm