ĐẠI BÀNG TINH NÚI BA VÌ - Chương 40: Máu Trên Đầu Tên
Cự ly rút xuống còn năm mươi mét, rồi bốn mươi lăm mét, trong tiếng gió đang lớn dần theo đường bổ thứ hai. Thân đo những con số ấy không bằng mắt nữa,…
Nội dung chương
Cự ly rút xuống còn năm mươi mét, rồi bốn mươi lăm mét, trong tiếng gió đang lớn dần theo đường bổ thứ hai.
Thân đo những con số ấy không bằng mắt nữa, mà bằng cả thân người đã đứng trong đường bổ của nó hai lần trong một đêm. Ở năm mươi mét, đốm trắng dưới cuống họng nó còn là một miếng vá sáng bằng bàn tay ở phía xa. Ở bốn mươi lăm mét, nó đã lớn hơn bàn tay của chính ông, các mép của nó đã rõ tới mức ông nhìn thấy đường viền nơi lông thép kết thúc và vùng da trắng bắt đầu, và nó vẫn đang lớn thêm theo từng nhịp cánh, đều, chắc, không dừng lại. Biên giới năm mươi mét mà tổ huấn đã khóa, biên giới ông vừa giữ bằng cả một cú bổ vọt qua đầu mình và một vết băng bị xé rách trên vai, đã ở phía sau lưng phát bắn này. Từ giây này, mọi điều kiện đều đang mở ra cùng một lúc, và chúng sẽ chỉ mở trong vài chục giây ngắn ngủi của một đường bổ nhào, trước khi đôi vuốt của nó tới được mặt đá nơi ông đang đứng.
Ngay lúc ấy, Thân làm điều ông đã không làm được ở Mỏm Sáo.
Ông đưa ngón tay cái trái lên miệng.
Cử động này cũng phải trả giá bằng vai khâu như cử động giơ hiệu lệnh lúc nãy, nhưng ông không giơ cao: ông cúi đầu xuống về phía bàn tay trái đang vịn ở mép tảng đá, đưa đầu ngón tay cái vào giữa hai hàm răng, và cắn xuống. Ông cắn không do dự, không thăm dò, không có một tích tắc khựng lại nào ở giữa ý nghĩ và hành động như tích tắc đã ám ông suốt từ đêm mồng 10 tới tận sân trạm chiều nay. Da đầu ngón tay rách ra dưới răng ông. Máu tươi trào ra ngay, ấm và mặn, đầu tiên ở trong miệng ông, rồi thành một dòng nhỏ chảy xuống đầu ngón tay khi ông hạ tay xuống. Đau có tới, nhưng nó tới sau hành động, như một người đến muộn vào một căn phòng mà việc chính đã xong. Thân nhìn dòng máu của chính mình trong ánh trăng đục một tích tắc rất ngắn, và điều ông thấy trong tích tắc ấy không phải cơn đau. Ông thấy đêm mồng 10 ở Mỏm Sáo, bàn tay của chính mình đưa lên miệng rồi dừng lại giữa chừng trong bóng tối và sương, vì một nỗi sợ mất mát còn lớn hơn cả nỗi sợ chết trong khoảnh khắc ấy. Bàn tay đêm nay không dừng lại. Chỉ khác nhau có thế, và khác nhau chừng ấy là đủ để đổi cả một đêm rằm.
Ông bôi dòng máu tươi ấy dọc theo đầu mũi tên đồng ba cạnh đang tra trên nỏ.
Đầu mũi Hai nằm ngay trước mặt ông trong rãnh ngắm của cây nỏ đã ghì vào rãnh đá, gần tới mức ông không cần rời vị trí đứng, chỉ cần đưa bàn tay trái đang chảy máu tới và áp đầu ngón tay cái lên đầu đồng, rồi kéo chậm dọc theo từng cạnh của nó. Máu thấm vào ba rãnh của đầu tên ba cạnh, đi theo những đường rãnh cổ xưa mà người thợ vô danh nào đó đã tạo ra từ hàng trăm năm trước khi đầu tên này nằm dưới lòng suối Đá Chông, phủ lên trên lớp gia trì đã bôi từ buổi chiều: lớp nước củ nâu sắc đặc trộn máu gà trống thiến và tro bùa Núi Tản, lớp nền duy nhất còn lại của gói tro cuối cùng của đền Thượng, được bôi lại bằng ống tre nước gia trì cuối cùng trên chính mặt mỏm này. Máu tươi của người bắn phủ lên lớp nền ấy như một lớp cuối cùng khép kín một việc đã chuẩn bị qua bốn đời người giữ nỏ. Tổ huấn đã chép việc này bằng đúng năm chữ, và chiều nay ở sân trạm, rồi tối nay trên mỏm, Thân mới hiểu hết sức nặng của chúng khi chúng nằm trên đầu ngón tay đang chảy máu của chính mình: máu ai, người ấy bắn. Không ai bôi thay được. Không ai bắn thay được. Không có máu khô, không có máu người khác, không có đường tắt nào qua được câu dặn ấy, và phát tên ở Mỏm Sáo đã mất xuống vực chính vì ông đã cố tìm một đường tắt trong một tích tắc khựng tay.
Xong việc bôi máu, ông ghì thân nỏ sâu vào rãnh đá khoét sẵn.
Hai tay ông làm việc này theo một thứ tự đã thuộc từ buổi chiều, nhưng lần này chậm hơn và chắc hơn mọi lần thử trước đó: thân nỏ lim bọc đồng ép xuống đáy rãnh cho tới khi hai mép rãnh giữ chặt nó ở cả hai phía, đầu nỏ hướng thẳng ra khoảng không trước mỏm theo đúng đường bổ đang lao tới, và ông tỳ vai phải, vai nguyên lành duy nhất của mình, vào báng nỏ để giữ toàn bộ cây nỏ bằng sức nặng của thân người thay vì bằng cánh tay. Vai trái băng trắng, vừa bị xé rách thêm ở cú bổ thứ nhất, hạ thấp và hoàn toàn đứng ngoài việc này. Tay ông vẫn run. Ông cảm được cơn run ấy ở đầu ngón tay phải, cơn run của tuổi bảy mươi hai, của mười ngày thiếu ngủ, của một đêm nằm trong sương lạnh và hai cú bổ vừa qua. Nhưng cơn run ấy bây giờ chỉ còn ở trong tay ông. Nó không còn truyền được xuống mũi tên nữa, vì rãnh đá đang giữ cho thân nỏ và đầu tên đứng yên tuyệt đối, như câu Sinh đã dặn Đức ở cổng thôn lúc đoàn xuất phát: tay chú run thì đá giữ hộ. Đá đang giữ hộ ông thật, từng phân một, và phần việc còn lại của người bắn chỉ còn là chờ đúng khoảnh khắc và buông tay đúng một lần.
Ông đưa đốm trắng đang lớn dần vào giữa hai cọc ngắm đơn sơ của cây nỏ.
Hai cọc ngắm ấy không có gì đặc biệt: một chấu đồng nhỏ ở đầu thân nỏ và một khe ngắm khắc vào gỗ lim gần báng, thứ ngắm bắn mà thợ săn họ Hà đã dùng qua bốn đời, không kính, không đèn, không một trợ giúp nào ngoài con mắt của người bắn và khoảng sáng đục của trăng rằm trên sương. Đốm trắng đi vào giữa hai cọc ngắm ấy và nằm yên ở đó, không phải vì nó đứng yên, mà vì nó đang lao thẳng tới theo đúng trục của đường ngắm: một mục tiêu lao thẳng vào người bắn thì không chạy ngang qua đường ngắm, nó chỉ lớn dần lên ngay chính giữa đường ngắm, mỗi lúc một lớn, mỗi lúc một gần. Hơi thở của Thân chậm lại theo đúng cách cha ông từng dạy khi ông còn là đứa trẻ giữ ống tên đứng sau lưng cha trong rừng: thở ra một nửa, giữ phần còn lại trong ngực, để thân người tự đứng yên trong khoảng lặng ngắn giữa hai nhịp thở, và buông tên trong chính khoảng lặng ấy chứ không phải trong lúc đang cố nín thở tới căng cứng. Ông đã nghe bài học ấy lần đầu khi chưa đầy mười tuổi. Ông đã quên nó trong phần lớn đời người gác nỏ của mình. Đêm nay, trên mặt đá này, thân người bảy mươi hai tuổi của ông nhớ lại nó trước cả khi đầu ông kịp gọi tên nó.
Phía sau lưng ông, Đức nằm rạp sau tảng đá, nín thở, không dám phát ra một tiếng động.
Thân không nhìn thấy anh trong những giây này, và ông cũng không cần nhìn. Ông cảm được sự im lặng cố ý của người thanh niên ấy qua khoảng đá giữa hai người, một sự im lặng có kỷ luật của người đã bị gió quật ngã một lần, đã mất súng, đã hét lên một câu hỏi duy nhất trong đêm và đã nhận được câu trả lời của nó, và bây giờ đang làm phần việc cuối cùng còn lại của mình bằng cách không làm gì cả: không gọi, không nhắc, không chen một tiếng nào vào khoảng lặng của người bắn. Cả mặt mỏm như thu lại thành một đường thẳng duy nhất trong mắt Thân: từ khe ngắm ở báng nỏ, qua đầu mũi Hai vừa thấm máu tươi của chính ông, tới đốm trắng dưới cuống họng con điểu đang lao xuống. Mọi thứ ngoài đường thẳng ấy, sương, gió, vết đau ở vai, thôn không đèn ở dưới chân núi, ngôi mộ gió chờ bốn mươi hai năm trong nhà thờ họ, đều lùi ra ngoài khoảng nhìn của ông, không phải vì chúng không còn quan trọng, mà vì chúng đã giao hết phần quan trọng của mình cho đường thẳng này.
Thời gian trong những giây này chạy theo một cách khác hẳn cả đêm chờ vừa qua.
Cả một buổi tối nằm trong sương, từ lúc con điểu rời hang tới lúc nó quay về mang theo con trâu, đã trôi qua chậm tới mức Thân đo nó bằng từng lớp sương thấm qua áo. Còn bây giờ, vài chục giây của một đường bổ nhào chứa trong nó nhiều việc hơn cả buổi tối ấy cộng lại: một ngón tay cắn rách, một đầu tên thấm máu, một cây nỏ ghì sâu vào đá, một hơi thở được giữ lại nửa chừng, và một con điểu đang lao xuống với đôi vuốt cong đã mở rộng ra phía trước, sẵn sàng cho mét cuối cùng của đường bổ. Thân nghe tiếng vỗ cánh của nó qua lớp sáp ong như tiếng một trận gió lớn đang dồn qua một khe núi hẹp, từng nhịp một, mỗi nhịp gần hơn nhịp trước một khoảng rõ rệt. Mùi tanh từ thân nó đã tới trước nó, trùm xuống mặt mỏm trong luồng gió cánh, cùng với hơi lạnh của sương bị xé toạc phía trên đầu ông. Ông không ngẩng đầu lên khỏi đường ngắm để nhìn trọn thân hình nó. Trong đường ngắm của ông chỉ còn đốm trắng ấy, và như thế là đủ, vì mọi phần còn lại của con điểu, lông thép, mỏ đồng, vuốt cong, đôi cánh hai mươi mốt mét, đều là những thứ không giết được bằng một mũi tên, và người bắn chỉ có một mũi tên thì không được phép nhìn vào những thứ mình không giết được.
Sau lưng ông, trong ống tên dự phòng của Đức, còn một mũi tên thứ ba, và Thân biết rõ nó sẽ ở nguyên đó sau cả đêm nay.
Mũi Ba không phải phần dự phòng cho phát bắn này. Nó là phần dự phòng cho họ Hà, cho một tương lai mà ông có thể không còn đứng ở đây để chứng kiến, và lệnh khóa ông đã giao cho Đức từ sân trạm chiều nay vẫn nguyên hiệu lực trong từng giây của đường bổ này: nếu ông ngã xuống trên mỏm, Đức không được tự bắn, phải mang mũi tên ấy nguyên vẹn về nhà thờ họ. Ý nghĩ ấy đi qua đầu Thân trong khoảng lặng giữa hai nhịp thở không phải như một nỗi sợ, mà như một sự sắp xếp đã xong: mọi thứ cần giao đã giao, mọi lời cần nói đã nói, ở sân trạm, ở cổng thôn, ở nhà mình trước mặt Sen. Trên mặt đá này, vào giây này, không còn một việc dở dang nào níu tay ông lại nữa. Chỉ còn phát bắn, và phát bắn thì chưa tới lúc của nó, nhưng đang tới rất nhanh.
Đốm trắng dưới họng con điểu giờ đã to bằng bàn tay trong tầm mắt Thân, và vẫn đang lớn thêm theo từng nhịp cánh.
Ngón tay trỏ của Thân chạm vào cò nỏ.