Đáy sông - Chương 1: Hộp gỗ
Bà nội tôi mất vào một chiều thứ Tư cuối tháng Chín. Trời Nghệ An lạnh sớm, dù chưa vào thu. Tôi đáp tàu từ Hà Nội về Nam Đàn trong chiều. Rời ga lúc ba…
Nội dung chương
Bà nội tôi mất vào một chiều thứ Tư cuối tháng Chín. Trời Nghệ An lạnh sớm, dù chưa vào thu.
Tôi đáp tàu từ Hà Nội về Nam Đàn trong chiều. Rời ga lúc ba giờ, về đến nhà cũ lúc chạng vạng. Cha đứng đợi ở cổng. Ông không khóc. Tay cha buông thõng. Chiếc áo sơ mi trắng rộng hơn người ông.
Trong bếp, dì tôi khóc. Tiếng khóc lẫn vào tiếng ấm nước réo trên bếp gas.
Tôi đặt va li ở góc sân, cạnh gốc xoan đã rụng lá sớm một nửa. Cây sấu bên kia vườn vẫn xanh, nhưng quả đã nhỏ và chát. Chân tôi đi qua nền gạch tàu cũ vào phòng bà. Bà nằm trên giường gỗ lim, tấm khăn xanh che kín mặt. Bàn tay trái của bà đặt ngoài chăn, ngón tay còn giữ nếp gấp như đang nắm một vật gì. Nhưng trong tay bà không có gì.
Đêm đầu tiên không ngủ. Cha ngồi trên ghế gỗ cạnh bàn thờ tổ tiên, mắt nhìn ra khoảng tối ngoài hiên. Tôi rót nước cho cha. Cha uống một ngụm, rồi lại đặt cốc xuống.
Hai ngày làm tang. Tôi ngồi góc bàn, viết phong bì viếng và đọc tên người gửi cho cha. Xã viên hội nông dân, chị em phụ nữ, mấy chú cựu chiến binh vùng Nam Đàn cũ. Trong tất cả những câu chia buồn, không ai nhắc đến ông nội tôi.
Truyền thống nhà này là thế. Chiến tranh là chuyện của mấy chục năm trước. Ông nội tôi là liệt sĩ chưa quy tập được hài cốt. Bà thắp hương trên bàn thờ ông mỗi sáng, nhưng chưa bao giờ nói ông tên gì, ông mất ở đâu, ông còn sót lại vật gì. Cha tôi cũng không nhắc. Đến tang lễ của bà, cái tên ấy vẫn nằm yên sau lớp khói hương mờ.
Tôi nhìn di ảnh của bà đặt trên quan tài. Bà chụp ảnh năm bảy mươi tuổi, mặc áo nâu sòng, tóc búi thấp, nụ cười nhạt, mắt nhìn lệch khỏi ống kính, xa và mờ.
---
Bốn mươi chín ngày sau, tôi về quê lần thứ hai.
Giữa tháng Mười Một. Trời Nghệ An khô hanh, gió bấc chưa về nhưng sáng ra đã thấy hơi thở phả trắng ngoài sân. Cha đốt nhang trên bàn thờ. Khói bay lên rồi tan nhanh trong gió lùa qua cửa. Tôi mặc áo khoác mỏng, ngồi ở ghế đẩu cạnh bếp. Dì nấu xôi gấc. Màu đỏ của gấc thấm vào mỡ nước, bốc mùi ngọt lẫn mùi gạo nếp mới.
Lễ cúng bốn mươi chín ngày làm gọn. Chỉ người nhà. Cơm trắng, canh rau, thịt luộc, bát nước mắm ớt. Không đọc điếu văn. Sau khi cha thắp nén nhang cuối cùng, dì bước vào phòng bà.
Căn phòng đã khóa suốt từ ngày bà mất. Mùi băng phiến và gỗ cũ thoảng ra khi dì đẩy cánh cửa lim kêu kẽo kẹt. Tủ ba cánh ở góc phòng đứng yên, lớp sơn nâu đã bong tróc ở mép. Dì quỳ xuống, kéo cánh tủ thứ ba, sát đất. Từ đáy tủ, dì lấy ra một hộp gỗ mít.
Tôi đứng ở cửa phòng, nhìn chiếc hộp nằm trong tay dì. Gỗ mít màu nâu sậm, bề mặt bóng nhờn vì chạm tay nhiều năm. Bản lề đồng đã ngả xanh, nhưng vẫn còn chắc. Dì không nói gì. Dì đặt hộp lên giường bà, nơi tấm chiếu hoa đã cuộn lại một nửa.
Cha bước vào. Ông đứng bên giường, nhìn hộp gỗ như nhìn một người lạ bước vào nhà.
"Bà cất kín. Không cho ai mở khi còn sống." Dì nói. Giọng dì khàn, tiếng Nghệ An pha vào mấy từ cuối: "Dì với cha mi chưa từng thấy hộp ni mở."
Tôi bước lại gần. Tay tôi chạm vào nắp hộp. Gỗ ấm, không lạnh như tôi tưởng. Mép hộp có mấy vết trầy dọc. Có người đã mở ra, đóng vào nhiều lần trong một khoảng thời gian rất dài. Tôi nhấc nắp lên.
Mùi gỗ mít và mùi giấy cũ thoát ra trước. Rồi đến mùi khác. Mùi vải thô ngấm mồ hôi và máu khô đã lâu đến mức chỉ còn là một vệt tối trong trí nhớ.
Bốn vật nằm yên trong hộp.
Thứ nhất là một mảnh áo lính sờn. Vai trái. Vải bông dệt thô, màu xanh đã phai gần hết thành xám. Mép áo cháy, chỗ cháy quăn lại và cứng như vỏ cây khô. Trên vải có một vệt máu khô đã đen, nằm ngang từ đường chỉ vai xuống gần nách. Tôi không chạm vào vệt máu. Tay tôi chỉ lướt trên mép áo không cháy. Vải vẫn còn giữ được sợi ngang sợi dọc sau hơn năm mươi năm.
Thứ hai là một bản đồ vẽ tay bằng mực tím. Tấm giấy nháp màu vàng úa, gấp làm tư. Khi mở ra, nếp gấp suýt rách ở một chỗ. Đường sông uốn cong như một lưỡi câu. Những chấm nhỏ đánh dấu hai bên bờ. Phía bờ bắc, một chấm tròn đỏ nằm ngay khúc cong, nơi dòng chảy ép vào làng. Phía dưới chấm đỏ, một dòng chữ nhỏ: "Nhan Biều - đêm 14/9". Nét mực tím đã phai, loang nhẹ ra ngoài đường kẻ. Người vẽ bản đồ này dùng bút sắt, tôi đoán thế, vì có chỗ nét đậm nét nhạt rõ ràng. Ngòi bút hẳn đã cạn mực rồi được nhúng lại giữa dòng.
Thứ ba là một phong bì. Giấy chè úa. Mép sờn. Phong bì không có địa chỉ. Chỉ có một dòng đề ngoài, mực Cửu Long pha nước, nét chữ nghiêng về phía trước như người viết vội: "Cô Nguyễn Thị Liên - cứu thương Trường Bồ Đề." Tôi lật phong bì. Mặt sau trống. Không tên người gửi. Không địa chỉ. Nếp gấp trên phong bì đã mòn đến độ chỉ cần chạm nhẹ là giấy như muốn bung ra. Tôi không mở.
Thứ tư là một mẩu giấy nhỏ xé từ vở học sinh. Giấy trắng đã ngả vàng viền ngoài. Chữ bà tôi viết. Tay bà run nên nét chữ xiêu, không giống chữ bà trong tấm thiệp chúc tết tôi vẫn nhận mỗi năm hồi bà còn khỏe. Hai dòng. Mực bi lông xanh đã nhòe ở chữ cuối cùng.
"Ông không nằm ở Thạch Hãn đâu. Cháu đi tìm ông giúp bà. Cẩn thận với sông." Cha cầm mẩu giấy lên. Tay cha không run khi cầm, nhưng khi đặt xuống, hai ngón tay cha ép chặt vào mép giường như để giữ thăng bằng. Mặt cha không đổi. Mắt cha vẫn khô. Nhưng tôi nhìn thấy yết hầu cha di chuyển - một lần, rồi thôi.
"Bà để cho con." Cha nói.
Tôi nhìn cha. Cha nhìn hộp gỗ. Rồi cha đẩy nhẹ chiếc hộp về phía tôi. Gỗ trượt trên mặt chiếu, để lại một vệt cọ nhẹ.
"Cha không xử lý nổi."
Tôi không trả lời. Không phải vì tôi không muốn. Tôi không biết phải nói gì.
Trong bếp, dì lại khóc. Lần này tiếng khóc nhỏ hơn, như người ta khóc một mình khi không còn ai đứng gần. Tiếng xôi réo trong nồi hấp át bớt những tiếng nấc.
Tôi cúi xuống hộp gỗ. Tay tôi lần lượt chạm vào từng vật. Mảnh áo lính. Bản đồ. Phong bì. Mẩu giấy của bà. Tôi không biết phải sắp xếp chúng theo thứ tự nào, hay chúng đã nằm theo thứ tự bà muốn tôi nhìn thấy.
Tôi cầm phong bì lên. Ánh sáng từ cửa sổ duy nhất trong phòng chiếu xuyên qua lớp giấy chè. Tôi thấy mờ mờ những dòng chữ bên trong. Thư gấp tư. Hai trang. Nét chữ cùng một người viết dòng đề ngoài phong bì.
Tôi đọc dòng chữ trên phong bì lần thứ hai. "Cô Nguyễn Thị Liên - cứu thương Trường Bồ Đề."
Tên bà nội tôi là Phạm Thị Hậu.
Lá thư trong phong bì này không gửi cho bà.
Tôi đặt phong bì trở lại hộp. Đóng nắp. Bản lề đồng kêu một tiếng nhỏ, khô và gọn. Chiếc hộp khép lại bằng một âm thanh quá quen.
Đêm đó tôi không ngủ. Cha cũng không ngủ. Tôi nghe tiếng ông trở mình trên giường gỗ bên kia vách. Nhà cũ chỉ có hai phòng ngủ, vách thưa, tiếng thở cũng nghe được. Nhưng cha không nói gì. Tôi cũng không.
Sáng hôm sau, tôi xếp hộp gỗ vào va li. Mảnh áo lính tôi gói trong một tấm vải trắng sạch trước khi đặt vào. Bản đồ tôi kẹp giữa hai tấm bìa cứng. Phong bì tôi để nguyên trong hộp. Mẩu giấy của bà tôi gấp lại theo nếp cũ, nhét vào góc hộp nơi bà đã đặt nó.
Cha tiễn tôi ra bến xe. Ông đứng dưới gốc xoan đến khi xe khuất khỏi đường làng. Tôi nhìn qua cửa kính sau. Cha vẫn đứng đó. Áo sơ mi trắng. Tay buông thõng.
Trên chuyến tàu về Hà Nội, tôi không mở hộp. Tàu chạy qua Thanh Hóa, qua Ninh Bình, qua những cánh đồng mùa khô trơ gốc rạ. Tôi ngồi ở toa ghế mềm, va li để trên giá, hộp gỗ nằm trong va li. Mỗi khi tàu vào cua, tôi nghe tiếng gỗ chạm nhẹ vào thành va li. Tiếng động nhỏ ấy giống tiếng ai đó gõ cửa từ bên trong.
Tôi về đến căn hộ ở Hà Nội lúc chín giờ tối. Cởi giày. Đặt va li ở góc phòng. Kéo hộp gỗ ra. Đặt lên bàn làm việc cơ quan, cạnh màn hình máy tính. Mép gỗ mít vẫn còn vết bào tay. Bản lề đồng ngả xanh dưới ánh đèn bàn.
Tôi nhìn hộp gỗ rất lâu. Đủ lâu để đèn đường ngoài phố bật sáng, rồi tắt lúc nửa đêm.
Tôi không mở.
---
Mỗi đêm khuya tôi nhìn nó. Mỗi đêm khuya tôi không mở.
Mười sáu tháng trôi đi như thế. Mùa đông 2024 tôi viết bài về khu tập thể cũ ở Quận Ba. Mùa xuân 2025 tôi theo đoàn phóng viên vào miền Trung đưa tin lũ lụt. Mùa thu 2025 tôi ngồi ở văn phòng, duyệt bài cho mấy phóng viên trẻ, uống cà phê đá và không nghĩ đến chiếc hộp trên bàn làm việc. Nhưng mỗi sáng đến cơ quan, tôi vẫn nhìn thấy nó đầu tiên, trước khi nhìn màn hình máy tính.
Đến đầu tháng Tư năm hai ngàn không trăm hai mươi sáu, đất nước bắt đầu chiến dịch năm trăm ngày đêm tìm kiếm hài cốt liệt sĩ.
Tôi xem livestream lễ phát động trên điện thoại văn phòng. Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà đứng trên bục, sau lưng bà là Thành Cổ Quảng Trị, những bức tường gạch vỡ và cỏ xanh mọc từ khe đá. Bà nói về mục tiêu bảy ngàn hài cốt. Mười tám ngàn mẫu ADN. Năm trăm ngày. Từ mười lăm tháng Ba năm nay đến hai mươi bảy tháng Bảy năm sau.
Tôi tắt livestream. Nhìn chiếc hộp gỗ trên bàn.
"Ông không nằm ở Thạch Hãn đâu."
Buổi chiều cùng ngày, tổng biên tập gọi tôi vào phòng. Ông nói báo cử tôi đi Quảng Trị làm phóng viên thường trú cho chiến dịch. Thời hạn ban đầu là sáu tháng, có thể gia hạn. Tôi nói tôi nhận.
Tối đó về nhà, tôi mở va li lần đầu tiên kể từ sau chuyến về quê. Xếp quần áo. Máy ảnh. Sổ ghi chép. Cuối cùng, tôi đặt hộp gỗ lên trên cùng. Đóng va li. Khóa.
Trước khi tắt đèn đi ngủ, tôi kéo ngăn bàn, lấy phong bì từ trong hộp ra. Lần đầu tiên sau mười sáu tháng, tôi cầm phong bì trên tay. Giấy chè úa vẫn giữ nguyên mùi cũ. Dòng chữ "Cô Nguyễn Thị Liên - cứu thương Trường Bồ Đề" vẫn nằm nghiêng trên nền giấy ngả màu.
Tôi không bóc.
Sáng mai tôi đi Quảng Trị.
Ngoài cửa sổ, gió bấc cuối mùa thổi qua phố Hà Nội. Tôi nghe tiếng lá rơi trên mái tôn nhà đối diện. Một thứ âm thanh khô, nhẹ, như tiếng ai đó gấp một tờ giấy đã cũ.
Tôi đặt phong bì trở lại hộp. Đóng nắp. Tiếng bản lề đồng lại kêu lên, khô và gọn.
Tàu SE7 khởi hành lúc mười chín giờ ba mươi ngày mai. Ra ga Hàng Cỏ, đi Đông Hà.
Tôi sẽ mang chiếc hộp theo.