Đáy sông - Chương 3: Ban Quản lý
Tên tôi viết trong giấy giới thiệu, in đậm ở góc trái. Cô đọc một lần, gấp lại, đặt xuống bàn tre. Cô gái ngồi đối diện tầm hai mươi bảy, hai mươi tám…
Nội dung chương
Tên tôi viết trong giấy giới thiệu, in đậm ở góc trái. Cô đọc một lần, gấp lại, đặt xuống bàn tre.
Cô gái ngồi đối diện tầm hai mươi bảy, hai mươi tám tuổi. Áo sơ mi xanh ban quản lý, tóc buộc thấp sau gáy. Bảng tên trên ngực trái: Lê Thị Nguyện - Ban Quản lý Di tích Thành Cổ. Dưới tên có thêm dòng mực xanh viết tay: "Liên lạc Đội 584". Nét chữ nhỏ, xiên nhẹ về phải.
Cô đặt giấy giới thiệu của tòa soạn xuống, không gấp lại ngay. Ngón tay trỏ trái chạm nhẹ vào dấu đỏ - con dấu báo Hà Nội. Cô không hỏi gì thêm về tư cách phóng viên thường trú. Chỉ gật, mời tôi theo cô vào phòng tư liệu.
Phòng tư liệu nằm phía sau dãy nhà chính, cửa gỗ đóng quanh năm. Không khí mát hơn sân ngoài ít nhất năm độ. Mùi giấy cũ ẩm lẫn mùi gỗ long não. Tủ sắt ba cánh sơn xanh xám kê sát tường - ba hàng tủ, mỗi hàng cao quá đầu người. Trên mặt tủ là mấy tập bìa còng gáy vải, ghim danh sách đánh máy từ thời trước đổi mới.
Nguyện mở tủ thứ hai bên trái. Ngăn kéo trên cùng có kẹp một tờ giấy kẻ ô viết tay: "Sư đoàn 325 - Danh sách chưa quy tập (cập nhật 2025)". Cô lướt ngón tay theo thứ tự abc, dừng ở khoảng giữa. Một tập bìa mỏng màu nâu nhạt, bên trong là các tờ rời đánh số.
"Trung. Nguyễn Văn Trung." Nguyện đọc tên khẽ, gần như độc thoại. "1953. Nam Đàn, Nghệ An."
Tôi không nói gì. Tờ hồ sơ nằm trên mặt bàn gỗ ố vàng. Mực đánh máy đã nhòe một vài chỗ, nhưng đủ để tôi đọc từng dòng:
"Nguyễn Văn Trung - sinh 1953 - quê Nam Đàn, Nghệ An.
Nhập ngũ: đầu tháng 7/1972.
Đơn vị: Đại đội 9, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 95, Sư đoàn 325.
Hy sinh: đêm 14/9/1972 - vượt sông Thạch Hãn tiếp viện Thành Cổ.
Tình trạng hài cốt: Chưa tìm thấy."
Góc phải tờ hồ sơ có dán một tấm ảnh thẻ trắng đen mờ - cỡ hai đốt ngón tay. Khuôn mặt người lính nhìn thẳng, gò má cao, tóc húi ngắn sát da đầu. Áo lính cài khuy đến cổ. Ánh sáng trong ảnh lóa một vệt trắng chéo qua mắt trái - có thể là ánh đèn phòng chụp, có thể là nước in đã phai.
Tôi nhìn bức ảnh mười hai giây. Rồi gấp tập hồ sơ lại.
Nguyện không hỏi gì thêm. Cô đứng lặng phía sau tôi, cách khoảng một sải tay.
Tôi đưa cho cô bản đồ tay của bà. Tấm giấy đã trải phẳng từ tối qua, nhưng vết gấp cũ vẫn hằn rõ - những đường vân chéo nhau như chỉ khâu trên da. Mực tím vẽ hình lưỡi sông, một chấm tròn đỏ ở chỗ khúc cong. Tôi không giải thích bản đồ từ đâu. Chỉ nói: "Bà nội tôi để lại."
Nguyện cầm bản đồ bằng hai tay. Cô lật mặt sau - vết băng dán vàng ố còn dính một ít xơ vải. Cô lật lại mặt trước. Ngón trỏ chạm nhẹ vào chấm đỏ, rồi rà dọc theo đường cong màu tím.
"Khúc ni là Nhan Biều." Giọng cô trầm hẳn, ngắt quãng. "Ở đây nước xoáy ngầm. Đội 584 chưa quét hết. Máy dò mảnh đạn báo nhiễu - vùng ni tập trung nhiều kim loại từ năm bảy hai. Bom, đạn, pháo. Dày đặc."
Cô dừng ngón tay ở một điểm cách chấm đỏ khoảng hai phân trên bản đồ. "Đây là bờ Bắc. Chỗ cũ của bến phà Nhan Biều - giờ không còn nữa. Dòng chính chảy dịch về phía Đông sau đợt nắn dòng năm chín mươi. Nhưng xoáy ngầm vẫn ở đây - sát bờ."
Tôi nhìn bản đồ. Chấm đỏ nằm cách bờ Bắc một khoảng ngắn theo tỉ lệ tay vẽ. Không ghi chú thêm. Chỉ có một chấm tròn, đường kính chừng nửa phân.
"Người vẽ bản đồ là ai?" Nguyện hỏi.
Tôi không biết. Tôi đoán là đồng đội của ông nội - người cùng đại đội, cùng vượt sông đêm hôm đó. Nhưng tôi không nói ra. Cái tên "bà nội" tôi đã nói một lần, không đủ để trả lời câu hỏi này.
Nguyện đặt bản đồ xuống bàn, bên cạnh tập hồ sơ. Cô im lặng một lát, rồi hỏi: "Anh muốn ra Thành Cổ không?"
---
Sân Thành Cổ buổi sáng thứ Bảy ít người. Gạch Bát Tràng cũ lót lối đi hẹp - loại gạch vuông, màu đỏ sẫm đã ngả xám mốc ở các khe. Hai bên lối trồng bàng vuông - tán lá rộng, xanh thẫm, không một bông hoa. Mùi cỏ cắt ngày hôm trước còn vương trong không khí, lẫn mùi đất tưới ẩm.
Nguyện đi trước, tôi theo sau, cách cô nửa bước chân. Cô không nói gì. Tôi cũng không.
Đài tưởng niệm trung tâm nằm ở cuối lối đi chính. Khối đá xanh đen hình nấm mộ chung cao khoảng ba mét, đặt trên bệ ba bậc. Không bia tên cụ thể. Chỉ có hàng chữ khắc chìm sơn trắng ở mặt trước: "Tổ quốc ghi công các liệt sĩ hy sinh tại Thành Cổ Quảng Trị - Mùa hè đỏ lửa 1972."
Gió thổi qua bãi cỏ trước đài. Một cơn gió nhẹ, đều, không đổi hướng. Lá bàng vuông phía xa khẽ xào xạc. Mặt đá nóng dưới nắng đầu tháng Tư. Tôi không chạm vào, nhưng nhìn thấy ánh sáng phản chiếu thành một mảng trắng nhạt trên bề mặt đá nhẵn.
Tôi đứng yên. Nguyện đứng phía sau tôi, cách khoảng ba mét. Cô không đi cùng tôi vào sát đài. Để tôi một mình.
Tôi không khóc.
Không khóc là một việc tôi đã làm được từ lâu rồi. Lần cuối cùng tôi khóc là đêm nhận tin bà mất - ngồi trên sàn phòng trọ ở Hà Nội, lưng tựa vào tường, không bật đèn. Nước mắt chảy một lúc rồi ngừng, như vòi nước tự khóa. Từ hôm đó đến giờ, tôi chưa khóc thêm lần nào.
Nhưng đứng trước đài tưởng niệm, tôi thấy một cảm giác khác. Nó không giống buồn. Có một lớp màng mỏng bọc quanh ngực - không đau, chỉ thấy chặt.
Tôi đếm nhịp thở. Bốn phút. Sáu mươi nhịp. Tôi quay đi.
Nguyện vẫn đứng chỗ cũ. Ánh nắng hắt qua tán bàng vuông làm đốm sáng trên vai áo cô - những vệt tròn nhỏ, lay động theo gió. Cô không hỏi tôi cảm thấy thế nào. Cũng không an ủi. Cô chỉ gật nhẹ một cái, một cái gật rất nhỏ, gần như không chuyển động cổ - rồi quay lưng dẫn tôi ra cổng.
--- Trên đường về, Nguyện dừng xe đạp bên lề đường đất cách đài tưởng niệm khoảng một cây số về phía Đông. Cô chỉ tay về phía sông.
"Quán ni."
Tôi nhìn theo hướng tay cô. Một quán nước nhỏ - mái lá cọ khô, bốn cây cột gỗ tròn chôn thẳng xuống đất, không sơn, không bào nhẵn. Bốn ghế nhựa đỏ xếp quanh một bàn tre thấp. Phía sau quầy, một người phụ nữ tầm bảy mươi tuổi đang ngồi trên ghế gỗ, đầu chít khăn nâu, tay phe phẩy quạt nan.
"Quán Bà Hai," Nguyện nói, giọng bình thường trở lại. "Bác Tâm chiều nào cũng ngồi ở đó. Là cựu chiến binh sống sót. Cùng đại đội với ông cụ."
Tôi không hỏi lại. Cùng đại đội - Đại đội 9, Trung đoàn 95, Sư đoàn 325. Người đàn ông cùng đơn vị với ông nội tôi đã sống sót sau đêm 14 tháng Chín. Bây giờ ông đang ngồi ở mép nước phía dưới kia, mỗi chiều, đều đặn, năm mươi bốn năm.
Tôi nhìn về phía quán. Khoảng cách từ đường đất xuống mép nước chừng năm mươi mét, dốc thoai thoải, cỏ mọc thưa. Một bóng người mặc áo cộc tay xám ngồi quay lưng ra đường. Tóc bạc trắng hoàn toàn - một mảng trắng duy nhất trong khung cảnh xanh xám của sông và cỏ.
Nguyện dắt xe quay lại. "Để em đưa anh về nhà nghỉ."
Tôi đi bên cạnh xe. Gió Lào tạt qua mặt, khô và nóng. Tôi ngoái lại nhìn quán nước một lần nữa - bóng người tóc bạc vẫn ngồi im. Tay phải cầm một chén gì đó. Không uống. Chỉ cầm.
---
Trưa hôm đó, tôi về nhà nghỉ, cởi giày, ngồi trên mép giường. Máy lạnh chạy ro ro. Ngoài cửa sổ, nắng chiếu thẳng xuống mái tôn đối diện, hắt ngược vào phòng một thứ ánh sáng trắng xóa.
Tôi mở hộp gỗ mít của bà.
Lá thư nằm yên chỗ cũ - gấp tư, giấy màu chè úa, nét chữ mực tím đã nhạt. Tôi cầm lên, lật trang đầu.
"Liên ơi,"
Tôi đọc đến đó thì ngừng.
Tờ thư thứ hai vẫn gấp bên dưới trang đầu - nét mực tím của đoạn tái bút lộ ra một góc qua mép giấy. Tôi không mở. Ngón tay tôi chạm vào mép giấy. Sợi giấy đã ngấm ẩm qua hơn nửa thế kỷ, nhám nhẹ dưới da tay. Tôi rút tay về.
Tôi gấp thư lại. Đặt vào hộp. Đậy nắp.
Lúc này chưa đến lúc đọc tiếp. Cảm giác chặt ở ngực từ đài tưởng niệm vẫn chưa tan hẳn. Nếu đọc thêm một dòng nữa, có thể tôi sẽ làm vỡ một thứ chưa kịp gọi tên.
Hồ sơ Nguyện đưa cho tôi một bản photo. Tôi lấy ra đọc lại. Dòng "Hy sinh: đêm 14/9/1972 - vượt sông Thạch Hãn tiếp viện Thành Cổ" in nghiêng, mực đen đậm hơn các dòng khác. Có thể nó đã được đánh máy bổ sung sau này, bằng một chiếc máy chữ khác.
Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ. Từ nhà nghỉ, không nhìn thấy sông. Nhưng tôi biết sông ở hướng nào.
---
Buổi chiều, tôi ra quán cà phê đối diện nhà nghỉ. Quán vắng. Ở góc trong cùng, một người đàn ông trung niên ngồi đọc báo Quảng Trị. Gần cửa, một cô gái trẻ lướt điện thoại bên ly sinh tố. Tôi chọn bàn ngoài cùng, sát cửa kính.
Trên bàn, hộp gỗ mít của bà đặt cạnh ly cà phê đen. Tôi không mở ra nữa. Chỉ ngồi nhìn dòng xe cộ thưa thớt trên đường Hai Bà Trưng. Xe máy cũ, vài chiếc tải nhỏ chở hàng, một chiếc xe đạp của ông già chở hai thùng nước phía sau.
Tôi nghĩ về Bác Tâm.
Người đàn ông tóc bạc trắng ngồi quay lưng ra đường, tay cầm chén nước không uống. Năm mươi bốn năm. Mỗi chiều. Cùng một chỗ. Cùng một tư thế. Nhìn ra giữa sông.
Tôi không biết gì về Bác - ngoài việc ông là người cùng đại đội với ông nội tôi. Nhưng cách ông ngồi, lưng còng nhẹ, vai thõng, đầu hơi nghiêng về phía trước, đã nói thay khuôn mặt. Đó là tư thế của người đã quen chờ đợi. Chờ cái gì, tôi chưa biết. Nhưng người về đã không về từ năm 1972. Đây là kiểu chờ khác, hướng về phía sông, phía đáy nước, phía những xoáy ngầm mà máy dò mảnh đạn không quét tới.
Tôi uống một ngụm cà phê. Đắng, nguội.
Lá thư của ông nội tôi vẫn gấp tư trong hộp - trang hai chưa đọc. Tái bút viết bằng nét chữ khác. Tâm nó nhờ tôi viết. Nhưng tôi chưa đọc đến đó. Tôi mới chỉ đọc dòng đầu tiên: "Liên ơi."
Tôi không biết Liên là ai. Tôi không biết Tâm là ai. Tôi chỉ biết bức thư nằm trong hộp gỗ của bà nội tôi. Nó nằm dưới đáy hộp, dưới mảnh áo lính cháy mép và bản đồ tay vẽ mực tím. Bức thư viết từ năm 1972. Năm mươi hai năm nó đã đi qua đâu đó trước khi về đáy tủ nhà bà. Bà chỉ giữ nó trong những tuần cuối cùng bà còn sống.
Câu bà viết trên mẩu giấy nhỏ vẫn còn trong đầu tôi: "Ông không nằm ở Thạch Hãn đâu. Cháu đi tìm ông giúp bà."
Hồ sơ Ban Quản lý nói ông nội tôi hy sinh đêm 14 tháng Chín năm 1972 khi vượt sông Thạch Hãn. Hài cốt chưa tìm thấy. Bà tôi lại nói ông không nằm ở Thạch Hãn. Hai thông tin đối nghịch nhau.
Tôi nhắm mắt, day hai bên thái dương. Sáng mai tôi sẽ đến quán Bà Hai. Sẽ ngồi xuống cạnh người đàn ông tóc bạc trắng, và sẽ hỏi ông câu hỏi đầu tiên.
Câu đầu tiên sẽ không là "bác có biết ông nội cháu đã chết thế nào." Nó sẽ là câu khác. Tôi chưa biết đó là câu gì. Nhưng tôi sẽ biết khi ngồi xuống.
Bên ngoài cửa kính, đèn đường bắt đầu bật. Một chiếc xe máy chở hai người chạy qua, tiếng pô nổ lụp bụp. Ông khách đọc báo gấp tờ Quảng Trị lại, trả tiền, đứng dậy. Cô gái uống sinh tố cũng rời đi ngay sau đó - ly nhựa còn một lớp màu hồng nhạt dưới đáy.
Tôi ngồi thêm mười lăm phút. Rồi trả tiền, cầm hộp gỗ mít, đi bộ về nhà nghỉ. Trên đường về, tôi đi ngang đài tưởng niệm thêm một lần. Sân vắng. Gió thổi qua đá xanh. Chữ nào cũng không có.
Tôi đặt tay lên đá một giây - đá nóng. Nóng đến chỗ tôi không đợi.
Buổi chiều tôi ngồi quán cà phê đối diện nhà nghỉ. Trên bàn, lá thư của ông tôi gấp tư trong hộp. Trang hai chưa đọc.
Sáng mai, quán Bà Hai.