Đáy sông - Chương 6: Lội
Tôi không trả lời Bà Hai sáng nay. Tôi gật, rồi đi. Trưa thứ Hai tôi nằm trong phòng nhà nghỉ, quạt trần quay chậm. Rèm kéo kín. Áo phông sáng sớm vẫn…
Nội dung chương
Tôi không trả lời Bà Hai sáng nay. Tôi gật, rồi đi.
Trưa thứ Hai tôi nằm trong phòng nhà nghỉ, quạt trần quay chậm. Rèm kéo kín. Áo phông sáng sớm vẫn còn vương mùi tanh bùn sông, giờ đã khô, treo trên thành ghế. Tôi rút lá thư trong hộp gỗ ra lần thứ hai. Đọc lại trang đầu. Rồi lật sang trang hai.
Nét chữ mực Cửu Long pha nước - chỗ đậm chỗ nhạt, có chỗ nhoè vì gấp tư lâu năm. Tôi đọc đoạn tái bút ở cuối trang: Tâm nó nhờ tôi viết. Nhưng tôi cũng muốn Liên biết - Tâm là người tử tế nhất đại đội này. Trung.
Tôi gấp lá thư lại. Ai là Tâm. Ai là Trung. Sao lại có hai tên trong một lá thư gửi cho một người con gái tên Liên. Ông nội tôi tên Trung. Vậy Trung là ông nội tôi. Nhưng thư ký tên Tâm. Và tái bút lại là Trung viết.
Tôi để lá thư xuống gối. Nhắm mắt. Không ngủ được.
Hai giờ chiều. Tôi ngồi dậy, rút tấm bản đồ tay vẽ trong hộp gỗ ra. Mực tím đã phai nhạt sau năm mươi tư năm, nhưng vẫn rõ hình lưỡi sông, chấm tròn đỏ ở khúc cong Nhan Biều. Tôi nhìn chấm đỏ. Nhìn dòng ghi chú nhỏ bên cạnh - nét chữ run hơn nét chữ trong thư, như viết vội: "Điểm vượt 14/9. Anh em nằm lại."
Tôi xỏ giày, cầm bản đồ ra cửa. Khi tay chạm vào nắm cửa, câu dặn của Bà Hai trở lại rất rõ: Cháu đừng ra sông một mình. Tôi đứng yên vài giây. Trong phòng chỉ có tiếng quạt trần và tiếng giấy bản đồ cọ vào lòng bàn tay. Nếu gọi Nguyện, tôi sẽ có một người địa phương đi cùng. Nếu chờ Bà Hai, tôi sẽ có một người biết sông. Nhưng chấm đỏ trên bản đồ không chờ tôi bình tĩnh hơn. Nó nằm đó, nhỏ và lì lợm, như một vết thương chưa khép miệng.
Tôi mở cửa.
Bến Thạch Hãn đoạn ngang Nhan Biều cách thị xã Quảng Trị chừng một cây số về phía Đông Bắc. Tôi đi bộ dọc đường Hai Bà Trưng, qua cây cầu nhỏ bắc qua nhánh sông phụ. Trời nắng chang chang. Gió Lào thốc từng đợt, khô và nóng, cuốn bụi đỏ ven đường. Hai bên đường, cây bàng cây trứng cá đứng im lá xám.
Tới bến. Một bến sông không có bến. Chỉ là một đoạn bờ cát rộng, dốc thoai thoải chạy dài chừng năm sáu chục mét. Không có thuyền. Không có người. Mặt sông tháng Tư cạn hơn tôi tưởng. Lòng sông lộ ra bãi cát giữa dòng, rộng, màu vàng xám, có chỗ trắng loá dưới nắng. Nước chảy chậm, lờ đờ, chỉ ngang đầu gối đến ngang đùi ở chỗ sâu nhất.
Tôi đứng trên bờ, mở bản đồ ra đối chiếu. Chấm đỏ nằm ở khúc sông cong hình chữ S. Tôi nhìn từ vị trí mình đứng ra giữa dòng. Bãi cát. Chấm đỏ. Trùng khớp. Ông nội tôi năm 1972, khi đó mười chín tuổi, đã đứng ở bờ này và vẽ tấm bản đồ này. Ông đánh dấu nơi đại đội sẽ vượt sông đêm 14 tháng Chín, nơi đồng đội ông nằm lại.
Gió Lào thổi ngang mặt giấy, làm mép bản đồ run lên. Tôi phải dùng cả hai tay giữ bốn góc. Trên giấy, con sông chỉ là vài đường mực tím. Trước mặt tôi, nó là nước đục, cát nóng, nắng trắng, và một khoảng trống không ai đứng cùng.
Tôi cởi giày. Cuộn quần lên trên đầu gối. Đặt giày và bản đồ lên tảng đá bên bờ.
Bước chân đầu tiên xuống nước. Nước ấm. Cát dưới lòng bàn chân mịn như bột, không lún nhiều. Tôi bước tiếp. Nước dâng lên ngang bắp chân. Cát vẫn ấm. Tôi nhắm hướng bãi cát giữa dòng, chỗ lòng sông cạn nhất, nơi chấm đỏ trên bản đồ hẳn nằm gần đấy.
Bước thứ mười một. Chân trái tôi dẫm lên một mảng cát lạnh đột ngột. Cái lạnh không đến từ nước. Nó giống cảm giác vừa bước từ nắng vào hầm sâu. Tôi dừng lại. Nước quanh bắp chân vẫn ấm. Nhưng cát dưới lòng bàn chân trái thì lạnh. Lạnh như có dòng nước ngầm chảy xuyên qua mạch cát. Tôi đứng yên một lát. Rồi bước tiếp. Chân phải. Chân trái. Có chỗ ấm. Có chỗ lạnh. Tôi không đếm nữa.
Bước thứ mười lăm. Tôi đứng cách bờ chừng mười hai mét. Nước đến gần đầu gối. Trước mặt, bãi cát giữa dòng trải dài, phẳng lặng, không một dấu chân. Cát ở đây cứng hơn, không lún như ngoài bờ. Tôi đứng yên. Nhìn xuống nước. Nước trong, có thể thấy cát dưới đáy sông lấp lánh hạt mica. Vài mảnh sò nhỏ. Một mảnh gốm vỡ tròn cạnh.
Tôi lấy điện thoại ra xem giờ. Hai giờ bốn mươi sáu. Màn hình lóa trắng dưới nắng, ngón tay ướt không mở được ứng dụng ghi âm. Tôi cất điện thoại lại. Không có gì để ghi âm. Sông không nói. Chỉ có tiếng nước đập nhẹ vào ống quần, tiếng vải ướt dính vào da, tiếng tim tôi nghe rõ hơn mọi âm thanh khác.
Tôi bước thêm nửa bước. Cát dưới chân đổi màu. Vàng xám chuyển sang đỏ sẫm trong một khoảng hẹp bằng miệng nia. Tôi cúi nhìn kỹ hơn. Dưới lớp nước đục, màu đỏ không nằm trên mặt cát mà chìm sâu bên dưới, như có một lớp đất khác bị lộ ra sau nhiều năm.
Tôi định quay vào thì bàn chân phải chạm vật cứng.
Nó không giống đá. Đá sông Thạch Hãn thường tròn và nhẵn. Cái này có cạnh. Có đường gờ mỏng chạy dọc. Tôi dùng ngón chân cái miết nhẹ - bề mặt nhám, có khe nhẵn như xương, nhưng cứng và lạnh hơn xương.
Tôi cúi xuống. Nước ngập đến cùi chỏ. Tay phải thò xuống, ngón tay chạm vào cát, mò dọc theo đường gờ. Vật cứng nằm nghiêng, một nửa chìm trong cát, một nửa nhô lên đúng chỗ tôi vừa dẫm phải. Cát bám chặt quanh mép vật. Tôi cào nhẹ bằng móng tay, từng chút một, sợ làm gãy thứ đang nằm dưới đó. Một mẩu rễ cây mục trôi qua mu bàn tay. Rồi một con cá nhỏ quẫy sát cổ tay tôi, vụt đi.
Tôi nắm lấy vật cứng. Nó không chịu lên ngay. Tôi đổi tay, dùng tay trái giữ thăng bằng dưới nước, tay phải xoay nhẹ theo chiều đường gờ. Cát nhả ra bằng một tiếng rất nhỏ, nghe qua đầu ngón tay hơn là qua tai.
Tôi rút nó lên.
Nước rỏ từ tay tôi xuống mặt sông. Tôi đứng thẳng. Nắm tay mở ra.
Một mảnh kim loại. Không lớn hơn ba đốt ngón tay. Hình chữ nhật, dài chừng năm centi mét, ngang ba centi mét. Mép trên và mép dưới đã mòn, cong vào. Gỉ sét phủ gần kín bề mặt, màu nâu đen, có chỗ rỗ lỗ chỗ. Nhưng giữa mảnh kim loại, tôi vẫn đọc được ba chữ. Nét khắc tay, sâu, khác hẳn nét máy dập - nét chữ mộc của lính chiến trường.
Ba chữ cái: "...VĂN T..."
Chữ đầu tiên đã mất. Có thể là "NGUYỄN". Chữ thứ hai còn nguyên. Chữ thứ ba còn nét ngang và nét móc - chữ T. Phía dưới ba chữ là một hàng số, nhưng mòn sâu - không đọc được năm sinh. Góc dưới cùng bên phải, dòng quê quán cũng đã mất hẳn, còn lại một vết lõm mờ.
Tôi đứng giữa sông. Tay nắm mảnh thẻ bài. Nước Thạch Hãn chảy qua bắp chân tôi, chậm, đều, như nó đã chảy suốt năm mươi tư năm qua mảnh thẻ này. Tôi nhìn ba chữ "...VĂN T..." đến khi nước trong lòng bàn tay khô dần, gỉ sét nổi rõ hơn.
Gió ngừng.
Tôi không nghe thấy gì — không một tiếng chim, dế, hay tiếng xe máy từ đường cái phía xa. Mặt sông phẳng như tấm kính mờ. Cát dưới chân tôi lạnh. Cả hai chân. Lạnh đột ngột và đều, như có ai vừa đặt hai bàn tay lên mu bàn chân tôi cùng lúc.
Tôi đứng yên. Sáu phút. Có thể lâu hơn. Tôi không đếm. Tôi chỉ biết khi tôi nhìn lại bờ, bóng cây trứng cá đã dài thêm một chút. Tay tôi vẫn nắm mảnh thẻ. Ngón cái miết lên ba chữ "...VĂN T...", lần này chậm hơn, như sờ vào một dòng chữ nổi trên bia mộ.
Trong sáu phút đó, tôi nghĩ đến ông nội tôi bằng một cách khác. Trước đây ông là tấm ảnh trên bàn thờ, là một dòng trong hồ sơ, là khoảng trống trong câu chuyện gia đình. Bây giờ ông có thể là ba chữ còn sót trên mảnh kim loại này. Một người lính mười chín tuổi từng tự khắc tên mình, đeo trước ngực, rồi bước xuống nước. Hình dung ấy rõ đến mức ngực tôi thắt lại, phải đứng yên thêm một lúc mới bước nổi.
Nước không sâu. Nếu muốn, tôi có thể quay vào bờ ngay. Nhưng chân tôi không nhúc nhích. Cát lạnh giữ dưới gan bàn chân. Không kéo. Không níu. Chỉ giữ đủ lâu để tôi hiểu mình đang đứng đúng chỗ.
Ông nội tôi tên Nguyễn Văn Trung.
Văn T.
Tôi lội về bờ. Bước chậm hơn lúc ra. Cát dưới chân không còn chỗ ấm chỗ lạnh nữa - lạnh hết. Khi lên tới bờ, tôi ngồi lên tảng đá. Lấy khăn giấy trong túi quần lau mảnh thẻ, lau thật nhẹ. Gỉ sét bong ra ít, dính vào khăn giấy thành những chấm nâu cam. Ba chữ "...VĂN T..." hiện rõ hơn một chút sau khi lau. Nhưng vẫn chỉ có ba chữ.
Tôi gấp bản đồ, cầm giày, đi bộ về thị xã. Mảnh thẻ bài nằm trong túi quần bên phải. Nó nhỏ và nhẹ. Nhưng tôi cảm thấy nó qua từng bước đi, một vật lạnh áp vào đùi qua lớp vải.
Tối. Quán Bà Hai. Đèn dầu đã thắp. Ánh lửa vàng nhảy trên mặt bàn tre. Bà Hai ngồi trong, lưng tựa vào cột nhà, tay phe phẩy quạt mo cau. Không có khách. Nồi nước chè xanh trên bếp than củi bốc khói nhẹ. Tôi bước vào, ngồi xuống ghế trước mặt Bà. Không gọi nước.
Bác Tâm không đến.
Tối nào bác cũng đến. Ngồi ghế góc bên phải, gần cửa sổ nhìn ra sông. Uống một ấm chè xanh, không nói chuyện với ai, rồi về. Tối nay ghế ấy trống.
Tôi rút mảnh thẻ từ túi quần ra, đặt lên bàn tre.
Bà Hai ngừng quạt. Đặt quạt xuống lòng. Tay trái Bà cầm mảnh thẻ lên, lật qua lật lại trong lòng bàn tay. Ngón tay Bà - ngón tay bảy mươi tuổi, da nhăn và mỏng, đốt ngón tay to - miết lên ba chữ "...VĂN T..." như tôi đã miết lúc chiều. Nhưng chậm hơn. Bà đọc bằng đầu ngón tay, không bằng mắt.
Bà nhìn tôi. Mắt Bà không bất ngờ. Mắt Bà bình thản, như vừa nhìn thấy một thứ Bà đã biết từ lâu, chỉ đợi nó xuất hiện.
Tôi nói: "Cháu lội ra giữa sông, chỗ khúc cong Nhan Biều."
Bà Hai gật. Tay vẫn cầm mảnh thẻ.
"Bác Tâm tối nay không đến," tôi nói.
Bà Hai không trả lời câu đó. Bà đặt mảnh thẻ xuống bàn, ngay giữa hai chúng tôi. Ngón tay Bà vẫn để trên mép thẻ. Ánh đèn dầu nhảy lên mặt kim loại gỉ, ba chữ "...VĂN T..." chốc sáng chốc tối theo ngọn lửa.
Bà nói, giọng chậm hơn sáng nay. Vẫn tiếng Quảng Trị đặc, nhưng lần này không còn là giọng cảnh báo. Giọng kể:
"Đêm rằm còn năm hôm nữa."
Bà dừng một lát. Tay rời mảnh thẻ. Bà nhìn tôi - nhìn thẳng, không chớp:
"Cháu đừng ra sông một mình."
Lần thứ hai tôi nghe câu này. Lần đầu là sáng nay, lúc tôi hỏi Bà về giấc mơ tôi gặp đêm trước. Lúc đó tôi chưa lội sông. Chưa tìm thấy mảnh thẻ. Bây giờ Bà lặp lại, sau khi đã nhìn thấy ba chữ "...VĂN T..." trên bàn tre.
Tôi không hỏi tại sao. Tôi hỏi: "Đêm rằm thì có gì?"
Bà Hai cầm quạt mo cau lên, phe phẩy trở lại. Mắt Bà nhìn ra cửa sổ, về phía sông tối đen sau quán.
"Đêm rằm," Bà nói. "Sông mở cửa."
Tôi chờ. Bà không nói thêm. Tay Bà phe phẩy quạt đều. Ánh đèn dầu nhảy lên mặt Bà - một khuôn mặt đã nhìn dòng sông này bảy mươi năm, đã thấy những mùa rằm dân làng thả hoa đăng, những mùa nước cạn lộ bãi, những mùa người ta tìm thấy thẻ bài và xương và mảnh đạn dưới cát.
Tôi đứng dậy. Cầm mảnh thẻ lên. Nó vẫn lạnh, dù đã nằm trên bàn mười phút dưới ánh đèn dầu.
"Cháu về," tôi nói.
Bà Hai gật. Không nói lời chào. Quạt vẫn phe phẩy.
Tôi đi bộ về nhà nghỉ. Đường tối. Gió Lào đã ngừng từ lúc nào. Không khí ẩm hơn - có lẽ sắp mưa. Tôi cầm mảnh thẻ trong túi quần, ngón tay cái miết lên ba chữ "...VĂN T..." qua lớp vải.
Về đến phòng, tôi bật đèn. Đặt mảnh thẻ lên bàn, cạnh phong bì lá thư. Hai vật. Một mảnh kim loại gỉ, ba chữ "...VĂN T...". Một phong bì giấy chè úa, một dòng chữ mực Cửu Long: "Cô Nguyễn Thị Liên - cứu thương Trường Bồ Đề" .
Hai vật cách nhau chừng năm centi mét.
Tôi ngồi xuống giường. Nhìn hai vật cùng lúc.
Mảnh thẻ bài không trả lời tôi Liên là ai.
Phong bì thư không trả lời tôi "...VĂN T..." là ai.
Tôi nhìn từ mảnh thẻ sang phong bì. Từ phong bì sang mảnh thẻ. Năm mươi tư năm trước, hai vật này từng ở trên người hai người lính khác nhau. Có lẽ họ cùng đại đội, biết nhau, và chính người này đã viết tên người kia trên phong bì thư trong khi người kia đánh rơi thẻ bài dưới đáy sông — đêm vượt dòng, khi pháo từ tàu bắn tới, thuyền chìm, và tám trong mười hai thuyền tới được bờ Nam.
Tôi nghĩ đến Bác Tâm. Tối nay bác không đến quán. Chiều nay tôi không gặp bác ở Thành Cổ. Cả ngày hôm nay bác không xuất hiện - đúng cái ngày tôi lội ra giữa sông và tìm thấy mảnh thẻ có ba chữ "...VĂN T...".
Tôi không tin trùng hợp lắm.
Tôi nằm xuống giường. Không tắt đèn. Mảnh thẻ và phong bì vẫn nằm trên bàn, ngay tầm mắt tôi khi nghiêng đầu sang bên phải. Kim loại gỉ. Giấy chè úa. Hai màu nâu của thời gian.
Ngoài cửa sổ, gió Lào hoàn toàn ngừng. Sông Thạch Hãn cách phòng tôi tám trăm mét. Nó không lên tiếng. Nhưng tôi biết dòng nước vẫn đang chảy qua bãi cát Nhan Biều. Vẫn đang chảy qua chỗ tôi đứng lúc chiều. Chỗ cát lạnh dưới chân. Chỗ tôi cúi xuống và rút lên một mảnh kim loại đã nằm ở đó năm mươi tư năm.
Tôi nhắm mắt. Trong đầu tôi, ba chữ "...VĂN T..." vẫn cháy ngược qua mí mắt. Nó không còn là hình ảnh, mà là cảm giác đầu ngón tay miết lên nét khắc tay của một người lính mười chín tuổi, khắc tên mình lên mảnh nhôm máy bay rơi, rồi đeo nó trước ngực, rồi lội qua dòng sông này, rồi để nó rơi xuống cát.
Tôi tắt đèn. Không ngủ.