Đáy sông - Chương 4: Bác Tâm

Quán Bà Hai cách đài tưởng niệm khoảng một cây số. Mái lá. Bốn ghế nhựa. Một cái bàn tre. Tôi đi bộ từ nhà nghỉ ra bến lúc xế chiều. Nắng Quảng Trị tháng…

Nội dung chương

Quán Bà Hai cách đài tưởng niệm khoảng một cây số. Mái lá. Bốn ghế nhựa. Một cái bàn tre.

Tôi đi bộ từ nhà nghỉ ra bến lúc xế chiều. Nắng Quảng Trị tháng Tư cháy da. Gió Lào hất bụi đường vào mặt, khô rang, mang theo mùi cỏ cháy. Con đường dọc sông vắng, hai bên lau sậy cao quá thắt lưng. Thỉnh thoảng một chiếc xe máy vụt qua, bụi tung lên rồi lắng xuống.

Tôi đi thêm dăm trăm mét. Sông Thạch Hãn hiện ra bên trái, mùa này cạn trơ đáy. Bãi cát giữa dòng lộ ra, một dải dài vàng xỉn. Dòng chính hẹp lại, chảy sát bờ Bắc, nước đục màu phù sa. Bên này, mặt cát phẳng lặng, in dấu chân chim và những đường ngoằn ngoèo của cua bùa.

Tôi đứng một lúc. Gió sông thốc lên, cuốn theo mùi bùn tanh và mùi khói củi từ phía làng chài bên kia bờ. Nắng chiều xiên qua bụi lau, rọi những vệt sáng dài trên mặt cát.

Tôi đi tiếp. Quán Bà Hai nằm sát mép nước, mái lá cũ ken dày, chằng dây kẽm ở bốn góc. Phía trước kê bốn ghế nhựa thấp quanh cái bàn tre ọp ẹp. Mặt bàn bóng lên vì mỡ và thời gian. Sau quầy gỗ nhỏ có bình nước vối bằng nhôm, chồng ly nhựa úp ngược, và một xâu chuỗi hạt gỗ mộc.

Bà Hai ngồi ghế sau quầy. Tầm bảy mươi tuổi - đoán vậy, chứ gương mặt khắc khổ có thể già hơn hoặc trẻ hơn tùy ngày. Đầu chít khăn nâu, nút thắt gọn sau gáy. Áo bà ba xám vải thô, tay áo xắn đến khuỷu để lộ cánh tay gầy guộc, da nhăn nheo xếp lớp. Bà nhìn tôi bước vào, không hỏi. Đôi mắt đục nhẹ vì tuổi tác nhưng vẫn còn tinh - chúng quét qua mặt tôi, qua cái ba lô tôi đeo, rồi dừng ở chỗ trống trước bàn.

Bà với tay lấy cái chén - loại chén sứ trắng men đã nứt viền, vết nứt ngả màu trà - đặt xuống bàn tre trước mặt tôi. Rồi bà nhấc bình nước vối còn ấm, rót đầy chén. Nước chảy ra màu hổ phách nhạt, hơi ấm bốc lên trong không khí khô của gió Lào. Lá vối còn xoay trong chén, rồi từ từ chìm xuống đáy.

Tôi nhận chén bằng hai tay. "Cháu cảm ơn mệ."

Bà Hai gật, đẩy đĩa kẹo lạc về phía tôi - kẹo lạc bọc đường, cắt miếng vuông, phủ lớp bột áo mỏng. "Cháu uống đi. Nước vối. Nắng ni đi đường khô cổ."

Giọng Quảng Trị đặc sệt - ni , mệ , rứa . Tôi nhấp một ngụm. Đắng nhẹ nơi đầu lưỡi, rồi ngọt hậu - vị ngọt thanh của lá vối tươi, khác hẳn vị ngọt của đường. Tôi đặt chén xuống, nhìn ra phía mép nước.

Phía trước quán, gần sát bờ sông, một bóng người ngồi trên ghế nhựa thấp. Lưng quay về phía bàn. Tóc bạc trắng, cắt ngắn sát da đầu. Áo cộc tay màu xám đã sờn, cầu vai bạc thếch, đường chỉ may ở nách áo đã bung vài mũi. Người đó ngồi im. Vai hơi đổ về phía trước, tư thế của người đã ngồi đây rất lâu. Tay phải cầm chén nước, không uống. Mắt nhìn ra giữa sông, nơi có bãi cát lộ thiên dưới nắng chiều.

Bà Hai không nhìn theo hướng mắt tôi. Bà đã biết tôi nhìn ai. Bà lần hạt chuỗi gỗ, môi mấp máy không thành tiếng.

Tôi đứng dậy. Chén nước còn một nửa. Ghế nhựa kêu nhẹ khi tôi rời khỏi. Bà Hai vẫn không ngước lên. Tôi bước chậm ra phía bờ sông, mỗi bước chân dẫm lên lớp đất khô nứt nẻ. Cỏ may bám vào ống quần, gai nhỏ cào vào mắt cá chân.

Người đó nghe tiếng bước chân nhưng không quay đầu. Chỉ có một chuyển động rất nhẹ - ngón trỏ tay trái gõ lên thành ghế nhựa một lần, rồi thôi.

Tôi dừng lại cách khoảng hai mét. Gió sông thốc lên, mang theo mùi bùn tanh và mùi khói củi. Một đợt gió Lào cuối ngày hất tung bụi cát từ bãi giữa dòng - cát bay ngược nắng, lơ lửng như khói.

"Bác là bác Tâm?"

Người đó hơi nghiêng vai. Vai trái nhích lên rồi hạ xuống, một câu đáp không thành tiếng.

"Cháu là Nguyễn Hoài Nam. Cháu nội ông Trung."

Im lặng.

Tôi đếm trong đầu. Một. Hai. Ba. Mười. Mười lăm. Gió vẫn thổi. Lá lau ven bờ cọ vào nhau tiếng sột soạt khô khốc. Bãi cát giữa dòng vẫn phẳng lặng dưới nắng. Chén nước trên tay người đó không động đậy - mặt nước trong chén phẳng như mặt gương, phản chiếu một mảnh trời xanh nhạt.

Hai mươi. Hai mươi lăm. Tôi bắt đầu tính xem mình nên nhắc lại hay quay vào quán. Nhưng tư thế ngồi của người này làm tôi giữ im lặng. Đó là sự tôn trọng lạ lùng của một người đứng ngoài một nghi thức và không có quyền cắt ngang.

Tôi nhìn xuống mặt sông - nước cạn, ánh nắng chiều vỡ trên mặt cát ướt thành những mảng sáng tối loang lổ. Con cò trắng đứng ở mép bãi đã bay đi. Thay vào đó là một đàn kiến lửa bò ngang qua mặt cát - một hàng dài ngoằn ngoèo, đen bóng dưới nắng.

Ba mươi.

Người đó xoay người.

Khuôn mặt hiện ra dưới nắng chiều xiên. Da rám đen vì nắng và gió tích tụ hàng chục năm. Nếp nhăn dày như vết dao khía trên gỗ, hằn từ đuôi mắt xuống gò má, từ cánh mũi xuống khóe miệng. Tóc bạc trắng toàn bộ, sát da đầu. Hai gò má cao, da căng trên xương, hốc mắt sâu. Nhưng đôi mắt không bất ngờ. Đó là đôi mắt của người đã biết chuyện này từ lâu, chỉ đợi ngày nó xảy ra.

Bác Tâm nhìn tôi khoảng năm giây. Bác không xét đoán. Bác nhận diện, so khuôn mặt tôi với một khuôn mặt khác trong ký ức.

Rồi bác chậm rãi đặt chén nước xuống nền đất bên cạnh ghế - từ tốn, không vội. Động tác của người đã quen với việc chờ đợi và không còn gì để vội. Bác đứng dậy. Người thấp hơn tôi nghĩ - cao khoảng mét sáu, lưng hơi gù về phía trước, hai vai rộng nhưng đã xiên đi theo năm tháng. Bàn tay phải buông xuôi, các đốt ngón sưng gù, móng tay cắt cụt, da tay chai dày - bàn tay của người đã lao động tay chân suốt một đời.

Giọng bác trầm, khàn - giọng của người ít nói. Âm Nghệ An gốc còn rõ trong cách nhả từng tiếng một, nhưng lớp âm Quảng Trị đã phủ lên trên, làm mềm đi những âm sắc gắt. Năm mươi tư năm sống ở vùng đất này đã làm phai bớt giọng xứ Nghệ - nhưng không xóa hẳn.

"Ông cháu là người tốt nhất tôi từng biết."

Bác ngừng một nhịp. Hai tay buông xuôi, bàn tay phải hơi run - nhưng tôi không chắc là run vì tuổi già hay vì điều bác sắp nói. Mắt bác nhìn thẳng vào tôi, nhưng đồng thời cũng như nhìn xuyên qua tôi, nhìn vào một điểm nào đó ở phía sau.

"Tôi nợ ông cháu một đời."

Tôi không nói gì. Câu đó không dành cho tôi đáp. Nó đã được nói trong nội tâm suốt năm mươi tư năm, và bây giờ mới có người khác nghe thấy. Tôi chỉ đứng đó, nhìn người đàn ông đã sống hơn bảy mươi năm mà phần lớn thời gian ngồi ở bến sông này.

Bác Tâm nhìn tôi thêm ba giây nữa. Rồi bác quay lưng, cúi xuống nhặt chén nước đặt lại trên ghế. Chén vẫn đầy - chưa uống một ngụm. Mặt nước trong chén phẳng lặng, phản chiếu bầu trời đã bắt đầu ngả vàng.

"Bác," tôi nói, "cháu muốn hỏi về đêm 14 tháng Chín -"

Bác Tâm giơ tay trái lên, chậm rãi. Bác không xua đuổi, cũng không từ chối thẳng thừng. Bàn tay ấy chỉ chặn câu hỏi lại, nhẹ như chặn một vật đang rơi. Bàn tay chai, các đốt ngón sưng gù, móng tay cắt cụt. Mu bàn tay có vết sẹo dài màu trắng, phẳng theo năm tháng nhưng vẫn còn dấu.

"Hôm khác."

Giọng đều đều, không giận, không mệt mỏi.

"Hôm nay tôi chưa sẵn."

Bác quay người bước. Đôi dép nhựa tổ ong lẹt xẹt trên nền đất khô. Bác đi về phía con đường đất ven sông - con đường dẫn ngược vào làng, nơi có những mái ngói đỏ thấp thoáng sau lũy tre. Không nhìn lại. Bóng bác đổ dài trên cỏ cháy, trải dài đến tận mép nước. Áo xám bạc thếch cầu vai - màu bạc của vải đã phai qua hàng ngàn lần giặt. Tóc trắng dưới nắng chiều, sáng lên như một đốm lửa nhỏ.

Tôi đứng nhìn theo cho đến khi bác khuất sau bụi lau. Dấu dép in trên đất còn mới - những vết lõm nông, đều đặn, khoảng cách giữa các bước chân ngắn, bước đi của người già.

Quay vào quán, tôi ngồi xuống ghế trước bàn tre. Chén nước của tôi đã vơi một nửa, nguội từ lúc nào. Bà Hai vẫn ngồi sau quầy, tay lần từng hạt trong xâu chuỗi gỗ mộc - hạt này đến hạt kia, nhịp đều như hơi thở.

Bà với lấy bình nước, rót thêm cho tôi chén thứ hai. Nước vẫn còn ấm - bà vừa châm thêm từ phích sau quầy. Lá vối mới chìm xuống đáy, xếp lớp màu nâu đen.

Tôi không hỏi gì. Bà Hai cũng không hỏi gì. Im lặng kéo dài, không khó chịu, giống khoảng nghỉ cần thiết giữa hai đoạn nhạc.

Sau đó, bà đặt xâu chuỗi xuống bàn. Tiếng gỗ chạm mặt bàn - nhẹ, khô.

"Bác Tâm năm mươi bốn năm chiều nào cũng ngồi đây."

Bà nói chậm, giọng đều - giọng của người đang kể một sự thật nhẹ như hơi thở, không cần nhấn nhá.

"Chưa lần nào về Hà Tĩnh."

Tôi nhìn bà. Bà không nhìn tôi - mắt bà hướng ra phía con đường đất nơi bác Tâm vừa khuất bóng. Con đường giờ trống không. Chỉ có bụi vẫn lơ lửng trong nắng.

"Cháu đến đúng lúc."

Tôi cầm chén nước lên, không uống. Mặt nước trong chén khẽ động - những vòng tròn lan ra từ tâm chén, rồi tắt. Tay tôi đang run nhẹ. Hoặc là gió. Tôi không chắc.

"Đúng lúc là sao, mệ?"

Bà Hai không trả lời ngay. Bà đứng dậy, bước ra phía ghế nơi bác Tâm vừa ngồi. Động tác chậm, lưng hơi còng nhưng bước chân còn chắc. Bà cúi xuống, nhặt chén nước bác để lại - vẫn đầy, chưa uống. Bà đem chén về bàn, đặt cạnh chén của tôi. Hai chén nước vối - một đầy, một vơi. Nước trong cả hai đều đã nguội.

"Bác Tâm ngồi ở ni từ năm 1976."

Bà ngồi xuống ghế đối diện tôi. Lần đầu tiên từ lúc tôi bước vào, bà nhìn thẳng vào mắt tôi. Đôi mắt đục nhẹ vì tuổi tác, nhưng trong đáy mắt có một tia sáng - thứ ánh sáng của người đã sống đủ lâu để hiểu những điều không cần nói ra.

"Ngày bác về Quảng Trị, bác mặc áo lính cũ, tay không có gì ngoài cái ba lô vải. Bác hỏi đường ra bến ni. Hỏi có quán nước nào gần sông không."

Bà Hai rót cho mình một chén nước vối. Hơi ấm bốc lên trong nắng chiều, tan nhanh trong gió Lào.

"Lúc đó quán của mệ mới mở được hai năm. Quán nhỏ, bán nước chè xanh, chưa có mái lá - chỉ có tấm bạt căng trên bốn cây cọc. Bác Tâm ra ngồi chỗ ghế đó - lúc đó chưa có ghế nhựa, chỉ có tảng đá to bằng cái thúng. Bác ngồi từ xế chiều đến tối mịt. Hôm sau lại ra."

Gió Lào thốc qua mái lá, làm xào xạc như mưa rào - thứ âm thanh khô khốc, không có hơi nước. Một hạt cát bay vào chén nước của tôi. Tôi nhìn nó chìm dần qua lớp nước màu hổ phách, để lại một vệt bọt nhỏ li ti trên mặt nước.

"Ngày nào cũng ra?" tôi hỏi.

Bà Hai gật. "Mưa cũng ra. Ốm cũng ra. Mệ hỏi sao bác cứ ngồi hoài - bác nói 'đợi người.' Mệ hỏi đợi ai - bác lắc đầu, không nói."

Bà ngừng một lát, lần tiếp hạt chuỗi. Những ngón tay gầy guộc, khớp xương nổi rõ dưới lớp da mỏng.

"Ba mươi mấy năm mệ mới biết tên bác. Trước đó bác không nói chuyện với ai. Ngồi một mình. Chén nước để đó. Đến khi nào mặt trời lặn thì đứng dậy đi về. Chén lúc nào cũng đầy."

Tôi nhìn chén nước của bác Tâm trên bàn. Lá vối đã chìm hết xuống đáy, xếp lớp màu nâu đen - những chiếc lá nhỏ, nguyên vẹn, không bị nghiền nát. Mặt nước phẳng lặng, phản chiếu mái lá đen xám phía trên. Tôi nhìn chén của mình - nước cũng đã nguội, lá vối cũng đã chìm.

"Mệ biết bác Tâm quê Hà Tĩnh không?"

"Biết." Bà Hai gật nhẹ. "Nghe giọng là biết. Nhưng mệ không hỏi gốc tích. Quảng Trị ni ai cũng có một chuyện. Hỏi làm chi. Người ta không kể được thì thôi."

Bà đứng dậy, lấy cái khăn lau quầy gỗ - khăn vải bông cũ, viền đã sờn. Động tác chậm, tay đã có tuổi nhưng còn chắc. Bà lau mặt quầy từ trong ra ngoài, những vệt tròn đều đặn.

"Cháu đến gặp bác chi rứa?"

Tôi mở miệng định nói - nhưng không biết bắt đầu từ đâu. Hình ảnh hiện lên trong đầu: hộp gỗ. Mảnh áo lính. Lá thư. Bản đồ. Dòng chữ run tay của bà nội: "Cháu đi tìm ông giúp bà." Tôi nhìn Bà Hai. Bà đang lau quầy, không nhìn tôi. Nhưng tôi biết bà đang đợi - đợi một câu trả lời, hoặc đợi tôi sẵn sàng để trả lời.

"Cháu nghĩ bác Tâm biết về ông nội cháu," tôi nói. "Hai người cùng đại đội. Đêm vượt sông năm 1972."

Tay Bà Hai dừng trên mặt quầy.

"Ông cháu tên Trung?"

"Dạ."

Bà gật, rất nhẹ. Một mảnh ghép cũ vừa khớp vào chỗ sau nhiều năm. Bà không nói gì thêm. Tay bà tiếp tục lau quầy, nhưng động tác chậm hơn.

Tôi uống nốt chén nước. Đắng nhẹ nơi đầu lưỡi. Ngọt hậu nơi cuống họng. Vị của lá vối tươi - cái vị mà sau này tôi sẽ nhớ mỗi khi nghĩ về Quảng Trị.

Ngoài sông, mặt trời chạm ngọn lau sậy phía tây. Bãi cát giữa dòng đổi màu - từ vàng xỉn sang nâu đỏ, như màu gạch nung, như màu đất sét. Bóng những bụi lau ven bờ đổ dài trên mặt cát - những vệt đen ngoằn ngoèo như chữ viết.

Bà Hai lau xong cái quầy, xếp khăn vuông vắn thành hình chữ nhật. Bà nhìn ra phía con đường đất giờ đã chìm trong bóng chiều, thành một vệt sẫm chạy dọc bờ sông. Xa xa, đèn nhà ai đó le lói sáng - một chấm vàng nhỏ trong màn chiều xám.

"Chiều mai bác có đến không, mệ?"

Bà gật một lần. Động tác dứt khoát - không do dự. "Mỗi chiều. Cháu cứ đến."

Tôi đứng dậy. Ghế nhựa kêu nhẹ. Tôi móc ví, lấy tờ năm mươi nghìn còn mới đặt lên bàn. Bà Hai nhìn tờ tiền, rồi cầm lên. Hai ngón tay gầy guộc vuốt phẳng tờ tiền rất chậm. Rồi bà kẹp nó dưới hộp đựng kẹo lạc trên quầy.

Không trả thừa.

Tôi nhìn chén của bác Tâm một lần nữa. Nước vẫn đầy, mặt nước phẳng lặng. Một con kiến đen bò lên mép chén từ phía ngoài. Nó dừng lại nơi vết nứt men, rung rung hai sợi râu, rồi quay đầu, bò xuống.

"Cháu về," tôi nói.

Bà Hai gật. "Cháu đi cẩn thận. Trời sắp mưa."

Tôi bước khỏi quán. Gió sông thốc lên từ phía bãi cát, mạnh hơn lúc trước, mang theo bụi cát mịn và mùi đất ẩm từ thượng nguồn. Trên bầu trời phía đông, mây xám đang dồn lại. Tôi đi dọc con đường đất, qua bụi lau nơi bác Tâm vừa khuất bóng. Dấu dép in trên đất còn mới, phần mép đã bắt đầu bị gió xóa mờ.

Tôi quay về nhà nghỉ. Phong bì lá thư vẫn nằm trên gối, trang thứ hai chưa mở. Tôi ngồi xuống mép giường, không bật đèn, nghe gió thổi mạnh dần ngoài cửa sổ. Trong đầu tôi cứ lặp lại câu của bác Tâm:

"Ông cháu là người tốt nhất tôi từng biết. Tôi nợ ông cháu một đời."

Câu đó không nhẹ đi sau khi rời bến. Nó nằm nguyên trong phòng, trên chiếc gối cạnh lá thư chưa mở.

Tôi nhớ câu cuối cùng Bà Hai nói trước khi tôi rời quán:

"Cháu đến đúng lúc."

Tôi vẫn không biết "đúng lúc" nghĩa là gì. Nhưng tôi biết chiều mai tôi sẽ quay lại. Và những chiều sau nữa, cho đến khi bác Tâm sẵn sàng.

Chương khác

Xem thêm