Đáy sông - Chương 7: Mở thư
Tôi nhắn Nguyện bảy giờ sáng. Cô đến lúc tám giờ, đem theo bánh mì chấm sữa và một câu hỏi tôi chưa hỏi mình. Tiếng dép vải của cô nện đều trên cầu thang…
Nội dung chương
Tôi nhắn Nguyện bảy giờ sáng. Cô đến lúc tám giờ, đem theo bánh mì chấm sữa và một câu hỏi tôi chưa hỏi mình.
Tiếng dép vải của cô nện đều trên cầu thang gỗ nhà nghỉ. Cánh cửa phòng tôi khép hờ từ sớm. Nguyện đẩy vào, tay xách một bịch giấy báo thấm mỡ, mùi bánh mì nướng chen lẫn mùi sữa đặc ngọt lợ. Cô mặc áo sơ mi trắng ngắn tay, quần lửng màu rêu - bộ đồ công sở quen thuộc từ ngày đầu tôi gặp ở Trung tâm Lưu trữ. Nguyện đặt bịch bánh lên bàn, cạnh cuốn sổ tay bìa simili đã sờn góc, rồi ngồi xuống ghế gỗ ép kê sát cửa sổ.
“Anh pha trà chưa?” Cô hỏi, giọng tỉnh khô.
Tôi lắc ấm điện. Nước vừa cạn từ đêm qua. Tôi tráng ấm, đổ nước mới, cắm phích. Rè điện trong phòng nhà nghỉ kêu rè rè, rồi đèn báo nhảy xanh. Tôi lấy gói trà mạn Thái Nguyên trong ba lô - gói duy nhất tôi mang từ Hà Nội vào, bà chị đồng nghiệp dúi lúc ra ga. Trà khô rời, cánh săn, mùi thơm nhẹ. Tôi đổ ba thìa vào ấm sứ trắng của nhà nghỉ, chờ nước sôi.
Gió sông Thạch Hãn thốc qua cửa sổ. Phòng tôi ở lầu hai, nhìn xuống mặt đường Hai Bà Trưng vắng xe. Gió tháng Tư ở Quảng Trị không thành cơn, từng luồng rời rạc, lúc mang mùi bùn non, lúc hong khô mùi gỗ mục từ mái hiên cũ. Nguyện không hỏi tại sao tôi gọi cô lên sớm. Cô mở sổ, đặt bút bi Thiên Long ngang dòng kẻ, ngồi im, ngón trỏ vân vê mép giấy. Tôi biết cô đợi.
Nước sôi. Tôi rót nước săm sắp mặt trà, rồi rót đầy ấm. Hương trà bốc lên hòa với mùi bánh mì sữa tạo thành một thứ không khí ấm cúng đến lạc lõng trong căn phòng thuê chật hẹp này. Tôi đặt ấm ra khay nhựa, bưng hai cốc ra, rồi mới mở ba lô.
Hộp gỗ mít nằm dưới đáy, lồng trong túi vải rút dây bà nội tôi may. Tôi nhấc hộp ra, đặt lên mặt bàn. Gỗ mít già đen bóng theo năm tháng, những vân gỗ nổi như đường chỉ tay người già. Nắp hộp đậy khít đến mức tôi phải dùng móng tay cái bẩy nhẹ vào khe hở. Một tiếng bật khô vang lên.
Mùi gỗ già trộn lẫn mùi giấy mục ẩm trào ra. Mùi này tôi đã ngửi từ hôm mở hòm bà nội trong căn nhà tập thể cũ, nhưng lần này ngồi trong phòng nhỏ giữa Quảng Trị, nó mang thêm một lớp khác - mùi của đất, của sông, của thời gian nằm yên năm mươi tư năm. Nguyện ngước mắt nhìn hộp gỗ. Cô không hỏi, nhưng bút trong tay dừng lại.
Tôi với tay vào hộp. Bốn vật kê sát đáy. Ngón tay tôi chạm vào phong bì trước.
Phong bì giấy chè úa, khổ nhỏ hơn bàn tay người lớn. Giấy quăn mép vì ẩm và khô theo mùa, những vệt loang màu nâu bầm như vân đá. Trên mặt giấy, dòng chữ mực tím viết tay còn rõ từng nét: Cô Nguyễn Thị Liên - cứu thương Trường Bồ Đề . Chữ viết nghiêng, nét thanh nét đậm, những con chữ có chân kiểu Pháp thuộc. Tôi đã nhìn dòng chữ này hơn trăm lần từ tối hôm qua, nhưng sáng nay, dưới ánh sáng trắng của cửa sổ, tôi nhận ra điều trước đó chưa thấy: góc trái sát mép gấp có một mảng thấm màu đen đã chuyển nâu. Nó không có mùi mực hay mùi nước đọng. Khi đưa lên mũi, tôi ngửi thấy mùi tanh khô của sắt.
Tôi biết đó là máu. Không biết của ai.
Nguyện nhìn phong bì, rồi nhìn tôi. Mắt cô không chớp. Tôi đặt phong bì xuống bàn, vuốt phẳng những nếp nhăn nơi mép gấp. Lần đầu tiên tôi bóc thư.
Ngón tay tôi luồn vào khe giấy. Mép gấp dày hơn bề ngoài trông thấy - nhiều lớp giấy chồng lên nhau, thời gian đã dán chúng bằng bụi và khí ẩm. Khi tôi kéo, một tiếng rách nhẹ vang lên như màng mỏng đứt. Lá thư gấp tư bên trong giãn ra. Mực tím, cũng là mực Cửu Long pha nước, đậm nhạt không đều theo tay người viết trong đêm. Vết mực ngả sang màu tím than ở những chỗ người viết nhấn bút mạnh, nhạt dần ở những nét đuôi chữ buông lơi.
Tôi đặt lá thư giữa bàn, ngay chính giữa hai chúng tôi, và bắt đầu đọc thành tiếng.
“Liên ơi.” Giọng tôi trong phòng thuê nhỏ và trần nghe lạc hẳn, như giọng người khác vọng ngược lên từ trang giấy. Tiếng sông ngoài kia ngưng - hoặc tôi bỏ quên tiếng sông. Tôi hắng giọng, đọc tiếp, chậm từng chữ.
“Đêm 13 tháng 9, 1972. Anh viết thư cho em từ Nhan Biều, bờ Bắc Thạch Hãn. Mai đại đội anh vượt sông tiếp viện Thành Cổ. Anh không biết có về được không.” Nguyện đặt bút xuống. Ngón tay cô chạm mép cuốn sổ, rồi rụt lại. Tôi đọc tiếp.
“Liên, anh là Tâm. Hà Tĩnh. ” Tôi ngừng ở chữ Tâm. Nét mực đều, chữ T in hoa kéo đuôi dài xuống dưới dòng như một lời ký thác. “Anh gặp em ngày em đến trạm cứu thương Trường Bồ Đề tháng Bảy. Em không nhớ anh - anh đến với đoàn tiếp viện ngày 8 tháng 8.
Em băng cánh tay anh. Em hỏi tên - anh nói Tâm. ” Nắng ngoài cửa sổ xiên vào mặt bàn, cắt lá thư làm hai nửa sáng tối. Nửa trên ngả màu trắng đục, nửa dưới nằm trong bóng râm. Tay trái tôi đặt trên mặt bàn nơi vệt nắng chạm vào, tay phải giữ lá thư đứng trên mặt gỗ để gió từ sông không cuốn đi.
“Liên, sau chiến dịch ba tháng, anh muốn về Hà Tĩnh đem em ra mắt mẹ. ” Giọng tôi chậm hơn ở câu này. Tôi thấy Nguyện cúi đầu, mắt nhìn xuống mặt bàn. “Mẹ anh đã mất 1962. Em đợi anh ba tháng, được không? ” Tôi đọc tiếp đoạn kế.
Chữ ở đoạn này nét hơi run, không còn đều như những dòng trên. Người viết hộ đã dừng bút một lúc, hoặc tay mỏi, hoặc đêm xuống khuya. “Liên, nếu anh không về - em đừng đợi quá ba mùa lúa. Em sống tiếp. Đừng để anh giam em.
” Dưới đó là chữ ký: “Anh Tâm. ” Tôi ngừng. Tờ giấy trong tay tôi hơi rung. Tôi tưởng mình sắp gấp thư thì thấy dòng cuối, thụt vào ba phân giấy, mực đậm hơn những dòng trên, nét khác - cứng hơn, dứt khoát hơn. Một dòng tái bút.
Tôi hít vào. Giọng tôi rụng xuống.
“Tái bút.” Tay tôi siết mép giấy. “Tâm nó nhờ tôi viết. Nhưng tôi cũng muốn Liên biết - Tâm là người tử tế nhất đại đội này. Trung.” Tôi đặt thư xuống. Mười sáu dòng chữ nằm yên trên mặt bàn gỗ ép. Ngoài kia, tiếng nước trong ấm vừa ngắt. Hơi nóng cuối cùng tan vào không khí. Nguyện im lặng. Cô không nhìn tôi nữa - cô nhìn lá thư, rồi nhìn phong bì, rồi quay sang nhìn hộp gỗ. Một lúc lâu, cô hỏi câu duy nhất. Giọng cô chậm và thấp, giống một phát hiện vừa chạm đến hơn là lời hỏi.
“Tại sao thư không đến Hà Nội mà nằm trong tủ bà nội anh?” Tôi không trả lời. Câu hỏi của Nguyện đặt xuống bàn như một vật thể - tôi có thể cảm thấy sức nặng của nó trên mặt gỗ, ngay cạnh phong bì. Tôi nhìn mảng máu khô trên góc trái tờ giấy. Nhìn ba vật còn lại trong hộp: mảnh áo lính sờn vai trái, tấm bản đồ tay vẽ bằng mực tím đã nhòe, mẩu giấy của bà tôi viết lúc cuối đời bằng bút bi. Rồi tôi nhìn lại dòng tái bút.
Trung.
Ông nội tôi viết chữ ký đó. Ông viết cho Liên - một cô gái ông chưa từng gặp, qua lời nhờ của Tâm. Nhưng câu “Tâm là người tử tế nhất đại đội này” - đó không phải lời Tâm nhờ. Đó là lời ông tôi muốn nói.
Tôi nghĩ, lần đầu tiên rõ ràng đến buốt lạnh: người viết tái bút còn sống khi đặt bút. Trung ký tên dưới lời nhắn ấy, nghĩa là ông còn sống ít nhất đến đêm 13 tháng 9. Và người đó đã không bao giờ nói với bà tôi một lời nào về Liên. Bà tôi giữ thư năm mươi tư năm. Bà giữ cho ai? Cho ông tôi - hay cho hai con người chưa kịp nói với nhau câu nào?
Tôi lắc đầu. Câu trả lời có, nhưng nằm ngoài những gì tôi có thể nói sáng nay.
Nguyện đợi thêm một lát, rồi cô kéo đĩa bánh mì lại gần tôi. Bánh đã nguội, sữa thấm vào ruột bánh đặc quánh. Cô không hỏi nữa. Cô lật một trang sổ mới, ngón tay lướt xuống một dòng trắng. Rồi cô nói, giọng trở lại vẻ thực tế quen thuộc.
“Trưa nay đi Trường Bồ Đề. Ở đó có sổ cứu thương năm bảy hai. Nếu Liên thật, tên Liên trong sổ. Nếu không thấy tên, ta dừng lại.”
Tôi gật. Nhưng tôi biết Liên là người thật. Tôi biết từ lúc đọc dòng chữ “Em băng cánh tay anh. Em hỏi tên - anh nói Tâm.” Những chi tiết nhỏ chỉ người sống mới viết ra được.
Tôi với tay vào túi áo ngực, rút mảnh thẻ bài đặt ra bàn, cạnh phong bì. Mảnh nhôm gỉ, dài chừng hai đốt ngón tay, mép cắt thô. Ba chữ “...VĂN T...” nổi qua lớp ô-xy hóa trắng đục, những vết xước li ti chạy dọc mặt nhôm như mạch máu. Tôi đã nhặt mảnh thẻ này từ bãi bồi Nhan Biều chiều qua, nơi dòng Thạch Hãn mùa cạn để lộ lớp bùn đen kết xác.
Nguyện cầm lên. Cô xoay mặt thẻ áp vào cửa sổ cho nắng xuyên qua. Ánh sáng lọc qua lớp nhôm mỏng ố màu hổ phách. Cô nói, giọng nhẹ, chỉ một từ Quảng Trị duy nhất.
“Ni là nhôm máy bay rơi mài lại - lính tự làm thẻ năm bảy hai. Không thuộc loại dog tag chính thức.”
Cô đặt thẻ xuống, ngay cạnh phong bì. Hai mảnh thời gian nằm song song - một bằng giấy, một bằng kim loại - cùng một màu nâu của máu khô và đất bùn. Cô không hỏi tôi tìm thẻ ở đâu, khi nào. Cô đã biết, hoặc chọn chưa hỏi.
Tôi rót hai cốc trà. Trà đã nguội, uống không đường. Cả hai ngồi im một lúc. Ngoài cửa sổ, nắng Quảng Trị lên cao dần, cắt ô bàn làm hai nửa sáng tối rõ rệt. Phong bì nằm bên sáng, thẻ bài nằm bên tối. Con phố Hai Bà Trưng bắt đầu có tiếng xe máy chạy qua, tiếng rao hàng rong từ đầu ngõ.
Trước khi đứng dậy, tôi hỏi Nguyện. “Em có biết ai trong Đội 584 dò Nhan Biều chưa?”
Nguyện gấp sổ, đứng lên, vén tóc ra sau tai. Sợi tóc mai dính vào thái dương ươn ướt mồ hôi sớm. “Đội trưởng tên Khôi - trùng tên anh họ anh thôi. Khôi này quê Vĩnh Linh. Em hẹn anh chiều mai.”
Cô xách cặp, bước ra cửa. Tiếng dép vải dừng lại nơi bậc thềm ngoài hành lang. Cô quay lại nhìn tôi - ánh mắt nhanh, như muốn nói điều gì đó nhưng rồi thôi. Chỉ gật nhẹ. Rồi tiếng giày xuống cầu thang vọng lên đều đặn, xa dần.
Nguyện về cơ quan trước. Tôi ngồi lại trong phòng nhà nghỉ ba mươi phút, nhìn thư mở trên bàn.
Hai trang. Mười sáu dòng. Một dòng tái bút.
Trong mười sáu dòng, ông tôi viết hộ Tâm. Trong một dòng tái bút, ông tôi viết cho mình.
Ông tôi không gửi cho bà tôi. Ông tôi gửi cho một cô gái tên Liên ở Hà Nội - qua tay Tâm.
Tôi nhìn lại dòng chữ cuối cùng. Nét mực cứng, dứt khoét vào giấy. Trung. Ông tôi đã ký tên mình dưới một lời nhắn thuộc về người khác. Và rồi bức thư này không đến Hà Nội. Nó nằm lại trong hòm gỗ của bà nội tôi. Ai đã cất nó vào đó? Ai đã quyết định không gửi?
Tôi gấp thư lại. Ngón tay chạm vào chỗ mít trên phong bì - vết máu khô sần dưới da giấy, sờ vào ram ráp như vảy cây. Tôi đặt thư vào hộp gỗ, cạnh mảnh áo lính, cạnh bản đồ, cạnh mẩu giấy của bà tôi. Rồi tôi đặt mảnh thẻ bài lên trên nắp hộp. Những chữ “VĂN T” nằm im dưới ánh sáng ban mai đã ngả vàng.
Tôi với tay tắt ấm điện. Dây nguồn nóng rực. Ngoài kia, sông Thạch Hãn vẫn chảy, tiếng nước xa xa vọng vào như lời thì thầm của đất. Tôi ngồi thêm một lúc, nhìn đồng hồ. Mười giờ sáng.
Đợi đến chiều, đi Trường Bồ Đề.