Đáy sông - Chương 8: Trường Bồ Đề

Tường Trường Bồ Đề một mặt cháy đen, một mặt vẫn vàng. Cây bồ đề trong sân vỏ có vết đạn - ai đó nói cây ấy đứng từ trước chiến tranh. Chúng tôi đến nơi…

Nội dung chương

Tường Trường Bồ Đề một mặt cháy đen, một mặt vẫn vàng. Cây bồ đề trong sân vỏ có vết đạn - ai đó nói cây ấy đứng từ trước chiến tranh.

Chúng tôi đến nơi lúc hai giờ chiều. Nguyện dựng chân chống xe Wave Alpha, máy xe còn nóng hừng hực dưới nắng tháng Tư. Suốt quãng đường từ thị xã qua cầu Thạch Hãn dài chừng ba cây số, cô chạy chậm, vòng tránh những ổ gà lõm sâu trên mặt nhựa bong lở. Cát từ mặt đường bám đầy gấu quần tôi. Qua cầu, tôi ngoái nhìn xuống dòng sông xám đục, nước cạn trơ những doi đất chạy dọc giữa dòng. Mùi bùn khô quyện với gió Lào rát mặt. Bên kia sông là Thành Cổ, tôi không thấy nhưng biết nó ở đó - hình hài của tháng Tám bảy hai vẫn nằm im dưới những tàn cây khuynh diệp.

Nguyện rẽ vào con đường đất đỏ dẫn vào khu di tích. Cổng vào còn lại hai trụ bê tông, không cánh, gạch vỡ ngổn ngang ngay lối đi. Tấm biển xi măng đề "Di tích Trường Bồ Đề" đã mờ gần hết nét, rêu phong xanh từng chữ. Nguyện không nói gì, chỉ nghiêng đầu ra hiệu tôi theo vào trong.

Không một bóng người. Mấy cây cao su già đứng lẻ loi phía sau dãy tường đổ. Tường phía Đông - mặt đối diện hướng Thành Cổ - loang lổ một mảng cháy lớn. Vết khói đen bám từ mái xuống nửa chừng thân tường, nơi màu vôi vàng ngả sang màu da bò gặp lửa. Tường phía Tây vẫn giữ nguyên sắc vôi bột trộn mật mía năm nào, sờn đi vì mấy chục mùa mưa nắng nhưng vẫn vàng một thứ vàng cũ kỹ, trầm lặng. Tôi đưa tay chạm vào mặt vôi, lớp cát mịn rơi ra dưới ngón tay.

Cây bồ đề đứng lệch bên trái sân. Thân nó cao chừng mười hai mét, cành lá tỏa bóng rợp gần hết khoảng trống trước phòng học. Gốc cây có một tấm bia đá nhỏ khắc mấy chữ tôi phải cúi xuống mới đọc được: "Bồ đề chứng nhân - Trường Bồ Đề 1972". Ba vết lõm trên vỏ cây - vết đạn cối, mảnh văng xoáy sâu vào gỗ chừng hai đốt tay. Cây đã liền da từ lâu nhưng sẹo vẫn hằn rõ, tròn và sâu như những đồng xu úp vào thân gỗ. Tôi sờ vào vết sẹo lớn nhất, vỏ cây khô và lạnh, không còn nhựa.

Phòng học chính đổ một nửa. Cánh trái sập hoàn toàn, dầm bê tông gãy khúc, cốt thép hoen gỉ chỏi ra ngoằn ngoèo - có đoạn uốn cong như bị bàn tay khổng lồ bẻ quặt. Cánh phải còn ba bức tường trơ vữa, mái không còn, nền đá xanh mòn vẹt dấu chân. Một tấm bảng đen gãy góc tựa vào tường cuối, mặt bảng loang lổ vết ẩm, không còn một nét phấn. Trên ô cửa sổ vỡ không kính, gió Lào lùa qua không một tiếng, chỉ thấy bụi bay lốm đốm trong nắng xiên.

Nguyện đi trước dẫn tôi ra cuối sân, nơi có lối xuống tầng hầm cứu thương cũ. Cầu thang bảy bậc xi măng. Bậc thứ tư nứt ngang, tay vịn chỉ còn một thanh sắt gỉ đóng vào tường. Tôi bước xuống trước, tay bám vào mảng vữa còn chắc. Nguyện theo sau. Càng xuống, không khí càng mát - thứ mát không dễ chịu. Mát kiểu đất ẩm ngậm nước, kiểu không gian kín không có gió, kiểu hầm sâu chưa từng thấy mặt trời từ nửa thế kỷ. Mùi ẩm mốc xộc lên, pha chút tanh của sắt rỉ.

Trần hầm thấp, chỉ chừng mét tám. Tôi phải cúi đầu một chút. Nguyện đứng thẳng - cô thấp hơn tôi. Đèn trong hầm là một bóng vàng nhỏ gắn trần, ánh sáng màu hổ phách lờ mờ như ánh lửa đèn dầu thời chiến. Trên tường bên trái, hai thanh sắt dài gắn song song, cách nhau hơn một thước. "Ni là khung treo cáng," Nguyện vừa nói vừa chỉ tay. "Cáng đặt thẳng từ chiến trường vô đây. Hai dây thừng buộc vai bệnh nhân. Cứu thương kéo cáng xuống hầm bằng ròng rọc nhỏ trên trần." Tôi nhìn lên, một cái móc sắt han rỉ vẫn còn treo lơ lửng trên trần bê tông nứt.

Tôi nhìn khung sắt. Những vệt lõm sáng bóng nơi dây thừng cọ xát suốt tám mươi mốt ngày đêm mùa hè bảy hai. Bao nhiêu cáng đã đặt lên đây? Bao nhiêu thân thể còn ấm và bao nhiêu đã lạnh được kéo xuống những bậc xi măng này, dưới ánh đèn vàng hiu hắt? Ở đâu đó sau tường, nước rỉ từng giọt đều đặn xuống nền, âm thanh vọng lên như tiếng tích tắc của một chiếc đồng hồ đã chết từ lâu.

Tôi thử hình dung: tiếng rên rỉ, mùi máu, mùi bông băng luộc lại, và một cô y tá mười tám tuổi người Hà Nội đứng ngay chỗ tôi đang đứng. Bàn tay nhỏ thó của cô nắm lấy tay một thương binh trẻ, miệng khe khẽ hát. Tôi lắc đầu, xua đi. Nguyện chạm nhẹ vào khung sắt một lần rồi rút tay về. Cả hai chúng tôi im lặng một phút, rồi bước lên mặt đất.

Ánh nắng chiều làm tôi nheo mắt. Không khí trên này nhẹ hẳn, nhưng cảm giác lạnh ở lòng bàn chân vẫn còn, dù tôi đã đi dép và nền hầm không ướt.

Góc cuối khuôn viên, bên phải sân, là một gian phòng nhỏ xây mới hơn - tường gạch trát vữa, mái tôn xanh. Trên cửa treo biển gỗ đề "Bảo tàng Trường Bồ Đề", chữ viết tay màu đỏ nâu. Bước vào, tôi thấy một bà lão ngồi sau bàn gỗ. Bà mặc áo bà ba nâu, tóc bạc búi thấp sau gáy, da mặt đồi mồi nhưng ánh mắt còn tinh. Trước mặt bà, một ấm nhôm đun nước vối, khói bay nhẹ. Gian phòng nhỏ chỉ kê một bàn dài gỗ lim đã bạc màu, ba tủ kính áp tường, vài tấm ảnh đen trắng treo trên vách. Mùi gỗ cũ, long não và nước vối.

"Thưa mệ," Nguyện lên tiếng. "Có anh Hoài, phóng viên Hà Nội, muốn hỏi mệ về mấy người cứu thương cũ."

Bà ngước nhìn tôi, đôi mắt chậm rãi lướt từ đầu xuống chân - cái nhìn của người già Quảng Trị, không soi mói, chỉ để hiểu người lạ. Rồi bà đứng dậy. "Mời ngồi. Mệ là Mai. Làm cấp dưỡng trạm năm bảy hai. Nấu cơm cho cứu thương, không phải lính. Nay coi bảo tàng, chừng nào có ai hỏi sổ ghi, mệ mở."

Bà rót nước vối ra hai ca sứ tráng men cũ, tay bà hơi run. Tôi kéo ghế ngồi, ghế gỗ ọp ẹp dưới trọng lượng. Nguyện ngồi cạnh tôi, im lặng.

"Mệ còn giữ sổ ghi chép cứu thương 1972 không?" Tôi hỏi, cố giữ giọng bình thường nhất có thể.

Bà Mai không đáp ngay. Bà đứng dậy, chậm rãi bước về phía tủ kính thứ hai ở góc phòng. Chìa khóa nhỏ trong túi áo bà ba - bà lôi ra, tra vào ổ. Tiếng kim loại lách cách khô khốc. Cánh tủ mở, bà lấy ra một quyển sổ mỏng đóng gáy thừng, bìa giấy sờn góc, mục lục viết tay bằng mực xanh. Bà đặt nó lên bàn, trước mặt tôi.

"Đây. Sổ ghi cứu thương. Bảy hai."

Tôi mở bìa. Mùi giấy cũ xông lên, mùi của hơn nửa thế kỷ nằm trong tủ kính. Trang mục lục xếp tên theo vần a b c, nét chữ nghiêng đều, cẩn thận - chữ của một người có học viết bằng bút mực. Mực xanh đã nhạt đi nhiều nhưng vẫn rõ từng nét. Ngón tay tôi lần theo cột chữ. Họ Lê, họ Mai, họ Phạm... đến họ Nguyễn. Dừng ở dòng giữa trang:

Nguyễn Thị Liên - sinh 1954 - quê Hà Nội - vào trạm 12/7/1972 - ra trạm 18/9/1972.

Tôi đọc lên, giọng không tự chủ thấp hẳn đi. Con số 18/9 đập vào mắt - hai ngày sau khi Thành Cổ thất thủ. Nguyện đưa mắt nhìn tôi, không nói.

"Liên ni," bà Mai lên tiếng. "Mệ nhớ."

Bà đứng bên cạnh bàn, tay chạm vào mép sổ. Ánh mắt bà không nhìn tôi - nhìn vào khoảng không trước mặt, nơi ký ức năm mươi tư năm trước đang trôi qua.

"Nhỏ thó nhất trạm. Cô bé Hà Nội. Học y tá Cát Linh trước, theo đoàn xung phong vô đầu tháng bảy. Mới mười tám. Đẹp lắm."

Bà quay lưng, chậm rãi bước về phía vách treo ảnh. Ngón tay gầy guộc chỉ vào một tấm ảnh đen trắng lồng trong khung gỗ đơn sơ, kính đã mờ bụi thời gian. "Liên ni. Hàng dưới, thứ ba từ trái sang."

Tôi đứng dậy, đến gần. Tấm ảnh chụp sáu nữ cứu thương đứng trước cửa hầm - đúng cái hầm tôi vừa xuống. Họ mặc áo bà ba xám, quần đen, dép cao su. Cô đứng giữa cao nhất, hai tay buông xuôi, ánh mắt thẳng vào ống kính. Cô thứ ba từ trái sang nhỏ thó hơn hẳn, tóc thắt hai bím buông trước ngực, áo bà ba hơi rộng. Khuôn mặt trái xoan, lông mày thanh, môi mím lại nhưng vẫn giữ một nét cong nhẹ - nụ cười không nhe răng. Dưới ánh nắng mùa hè bảy hai, họ đứng thật nghiêm, vài người hơi nheo mắt vì nắng gắt. Chú thích ở góc ảnh viết tay bằng bút chì: Trạm Trường Bồ Đề mùa hè 1972.

Tôi nhìn lâu hơn mức cần. Cô gái ấy mới mười tám. Vào tâm lửa đạn tháng Bảy, băng bó cho thương binh dưới hầm này. Có lẽ một trong những người cô chăm sóc là Tâm - người lính tôi chưa từng gặp nhưng những lá thư của anh đang nằm trong hộp gỗ sau lưng tôi.

Bà Mai ngồi xuống ghế trở lại, rót thêm nước vối. Bà kể thêm, giọng đều đều như kể chuyện thời tiết: "Cô Liên sau giải phóng đi đâu không rõ. Nhưng mệ còn nhớ, nhỏ Liên hay hát cho thương binh nghe. Giọng Hà Nội thanh lắm. Mấy anh bị thương nặng cũng tỉnh, có anh vừa cắt chân còn đòi hát nữa. Nó dạn dĩ. Có lần pháo bắn sập một góc trường, nó vẫn ở trong hầm với bệnh nhân, nói rằng người ta chưa chuyển đi được thì nó không ra."

Tôi hình dung cô gái Hà Nội nhỏ bé, giọng hát át tiếng đạn. Trong những lá thư tôi đọc, có đoạn nhắc đến đôi bàn tay lành nghề và nụ cười của một cô y tá. Thư không đề tên, nhưng giờ tôi biết đó là Liên.

Bà Mai ngừng một lát, đôi tay đặt trên đùi. "Có lần năm tám lăm, một người đàn ông tên Trung viết thư hỏi địa chỉ Liên. Mệ trả lời lên Hà Nội theo địa chỉ cũ của Liên ở phố Khâm Thiên. Nhưng không thấy hồi âm."

Tim tôi thắt lại. Trung. Ông tôi tên là Trung - người đã chết trong giấy báo tử năm bảy hai. Một người đàn ông tên Trung viết thư từ Quảng Trị năm tám lăm hỏi về Liên. Cùng một Trung? Tôi không dám hỏi thêm vì sợ chạm vào điều gì đó tôi chưa sẵn sàng nghe. Chỉ hỏi: "Thưa mệ, địa chỉ Hà Nội mệ gửi lúc đó?"

Bà Mai lắc đầu. "Sổ ghi địa chỉ năm tám lăm bị mất khi mưa lũ năm chín chín. Mệ không nhớ chính xác số nhà. Phố Khâm Thiên thì nhớ - phố Khâm Thiên nhỏ."

Khâm Thiên. Con phố bị B-52 san phẳng đêm Giáng Sinh 1972, chỉ ba tháng sau ngày Liên rời Trường Bồ Đề. Tôi không nói ra. Có lẽ vì thế mà hồi âm không đến, hoặc Liên đã không còn ở đó nữa.

Tôi xin phép bà Mai chụp lại trang sổ và bức ảnh. Nguyện giúp tôi dùng điện thoại - máy ảnh của tôi hết pin từ sáng. Bà Mai không phản đối, chỉ dặn nhẹ: "Đừng đưa lên mạng. Hình người ta còn sống hay đã mất chưa biết." Tôi gật đầu, hứa với bà.

Trước khi ra cổng, tôi đứng lại dưới gốc bồ đề. Tay tôi chạm vào vết đạn trên thân cây - vỏ cây lạnh và ráp. "Anh nghĩ chi?" Nguyện hỏi.

"Liên ra trạm 18/9 - sau khi Thành Cổ thất thủ ngày 16/9," tôi nói. "Liên có thể vào Quảng Trị tìm Tâm không?"

Nguyện lắc đầu. "Cứu thương rút theo sư đoàn về Bắc. Liên ra trạm có nghĩa Liên rút theo đoàn - lui lên Đông Hà rồi Vĩnh Linh. Liên không vào lại Quảng Trị tìm ai. Ngày đó, sông Thạch Hãn không ai bơi ngược."

Cô nói đúng. Dòng rút lui chỉ một chiều. Tôi lên xe, ôm ba lô trước ngực. Hộp gỗ nằm yên bên trong, nhưng nó như nặng thêm một thứ gì đó.

Trên đường về, gió Lào dội cát vào mặt. Nguyện chạy chậm, tránh những ổ trâu trên đường đất. Hộp gỗ trong ba lô tôi nặng hơn lúc đi.

Liên có thật. Sinh năm năm tư. Quê Hà Nội. Theo đoàn xung phong tháng 7. Học y tá Cát Linh. Mười tám tuổi, biết hát cho thương binh nghe, dạn dĩ ở lại hầm khi pháo dội.

Năm tám lăm ông tôi viết thư hỏi địa chỉ Liên - qua bà Mai bảo tàng. Không hồi âm.

Năm tám lăm ông tôi đã chết mười ba năm theo giấy báo tử của bà.

Tôi xuống xe ở cổng nhà nghỉ. Nguyện không hỏi, đi tiếp.

Chương khác

Xem thêm