Đáy sông - Chương 10: Anh Khôi
Tám giờ sáng thứ Tư anh Khôi gọi từ Vinh. Giọng anh cứng hơn lần nào tôi nhớ. Tôi đang ngồi ở mép giường nhà nghỉ, cầm mảnh thẻ bài vừa lau sạch lớp gỉ…
Nội dung chương
Tám giờ sáng thứ Tư anh Khôi gọi từ Vinh. Giọng anh cứng hơn lần nào tôi nhớ.
Tôi đang ngồi ở mép giường nhà nghỉ, cầm mảnh thẻ bài vừa lau sạch lớp gỉ đỏ bám ở góc chữ “T”. Vết gỉ mỏng như vảy cá, đã khô từ lâu, mấy hôm nay tôi ngâm dấm mới bong ra. Điện thoại rung ba hồi trên mặt bàn gỗ ép, xoay nhẹ một vòng tròn, màn hình sáng tên “Anh Khôi”. Tôi để mảnh thẻ xuống cạnh hộp gỗ mít, vuốt nút nghe. Bên ngoài ban công, tiếng xe máy từ đường Hai Bà Trưng vọng lên đều đều, mỗi đợt đèn xanh lại một lớp máy nổ lướt qua. Nắng chưa đổ hẳn vào phòng, chỉ mới quẹt một vệt vàng lên lan can xi măng và hắt bóng song sắt thành những vạch đen song song xuống nền gạch men nâu. Cái nền gạch lạnh dưới chân tôi đã quen hơi từ hai hôm nay, nhưng sáng nay tự nhiên nó lạnh hơn. Có lẽ vì giọng anh Khôi lúc bắt máy đã trầm xuống cuối câu, cái kiểu của người sắp nói một điều không dễ.
Hoài đấy à? Em đang ở Quảng Trị?
Tôi biết giọng đó. Hồi nhỏ anh Khôi hay đứng chặn cửa bếp nhà nội, không cho tôi vào lúc bà đang ốm, mùi thuốc bắc tỏa ra từ khe cửa. Lần nào cũng bắt đầu bằng cùng một kiểu trầm: “Em đứng đây”, rồi anh cúi xuống nhìn tôi qua cặp kính cận trễ xuống nửa sống mũi.
Kính của anh dày, lúc nào cũng có vẻ hơi mờ bụi, nhưng mắt sau kính thì rõ ràng từng nét. Mắt của người đã quen sắp xếp mọi thứ vào một trật tự. Bây giờ anh ba lăm tuổi, trưởng phòng Sở Lao động ở Vinh, phòng riêng tầng hai nhìn ra đường Quang Trung.
Chủ nhật nào tôi ghé chơi, anh cũng ngồi sau bàn gỗ dày, chồng công văn xếp góc vuông góc, cây bút đặt song song với mép lịch bàn. Anh không bao giờ để cái gì lệch. Thứ Tư hôm nay, cuộc gọi từ chính cái phòng đó, nhưng giọng anh không có tiếng kính đẩy lên như mọi khi, không có cái tặc lưỡi nhẹ trước mỗi lời khuyên.
Chỉ có giọng cứng, trầm và rất gọn.
Em về đi. Ba em đang ốm. Việc bà giao là việc của bà, không phải của em.
Tôi đứng dậy. Chiếc giường gỗ ép sau lưng kêu một tiếng khẽ, cái tiếng gỗ mới đóng chưa rút hết hơi ẩm, nghe sượng sượng. Ánh nắng bắt đầu xiên qua khe rèm cửa ban công, cắt một đường chéo xuống nền gạch ngay trước mũi chân tôi.
Tôi nhìn mảnh thẻ bài trên bàn. Thẻ nhôm máy bay, cắt từ mảnh rơi, mép vẫn còn vết cưa tay của ông già nào đó năm xưa. Chữ khắc “… VĂN T… ” nằm im dưới lớp gỉ đã mòn một nửa. Hôm qua tôi vừa tra danh sách sơ bộ bên Đội 584, Nguyện bảo có thể họ Văn tên T…
hoặc họ Văn lót T… , nhưng chưa dám chắc. Tôi quen kiểu chờ đợi mơ hồ đó từ hồi làm báo, nhưng sáng nay tự nhiên nó khác. Sáng nay có anh Khôi ở đầu dây bên kia, người mà cả họ tôi coi là giỏi nhất, đang nói với tôi bằng một giọng còn hơn cả cứng - giọng của người đã quyết định thay cho người khác.
Bà gửi em đi, anh ạ. Em đang đi. Em không thể về giữa chừng.
Đầu dây bên kia im một nhịp thở. Tôi nghe tiếng ghế xoay văn phòng của anh cọ xuống sàn gạch men. Có lẽ anh vừa đứng lên, hoặc vừa ngồi xuống. Ở Sở, phòng anh rộng, sàn lát gạch bông cũ từ thời bao cấp, mỗi lần xoay ghế là kêu một tiếng ken két rất nhẹ.
Tôi nhắm mắt hình dung anh đứng trước cửa sổ, tay cầm điện thoại, lưng thẳng như mọi khi, mắt nhìn xuống đường Quang Trung đang đông xe máy giờ đi làm. Nhưng tôi không hình dung được mặt anh lúc này. Mặt anh lúc cãi nhau với người nhà không giống mặt trên bàn công việc.
Nó lạnh hơn, nhưng cũng mệt hơn, như kiểu anh đang đứng chặn một dòng nước mà chính anh cũng không chắc có nên chặn không.
Em không hiểu gia đình mình đâu. Việc này không lật được. Có những thứ đã yên năm mươi năm - em đào lên, ai gánh hậu quả?
Tôi bước ra ban công. Nắng tháng Tư Quảng Trị chưa gay gắt, gió Lào chưa về, nhưng không khí hanh khô trên lớp da tay cầm điện thoại, cái hanh rất riêng của vùng đất gần sông, gần cát. Dưới đường, một chị bán bánh ướt đẩy xe ngang qua, tiếng rao ngắn kéo dài không đến hai giây. Tôi nhìn xuống vỉa hè, chỗ quán nước sáng qua tôi ngồi gọi Nguyện. Bây giờ quán chưa mở, ghế đẩu xếp chồng lên nhau, tấm bạt che còn cuộn một góc. Mọi thứ ở đây sáng sớm đều chưa sẵn sàng, kể cả con người ta. Tôi cũng vậy. Tôi chưa sẵn sàng nghe giọng anh Khôi buông câu “em không hiểu gia đình mình”, vì tôi biết anh không nói chơi. Anh là người hiểu gia đình mình nhất, hơn cả cha tôi, hơn cả các bác, vì anh là người duy nhất trong nhà làm công việc liên quan đến hồ sơ, đến giấy tờ, đến những thứ người ta có thể tra cứu. Anh biết những điều cha tôi không kể. Và có lẽ vì thế anh đang sợ.
Tôi nhìn mảnh thẻ bài vẫn nằm trên bàn phía sau lưng, qua vai mình, rồi quay vào. Hơi gió từ ban công thổi nhẹ làm bay bay góc tờ giấy vệ sinh tôi vừa dùng lau thẻ. Mảnh giấy trắng, nhàu, có vết gỉ đỏ loang như máu khô. Tôi nhặt nó bỏ vào sọt rác dưới chân bàn. Tay tôi không run. Một mạch lạnh chạy dọc từ cổ tay lên vai, khi tôi nói câu tiếp theo với anh Khôi.
Bà đào lên trước em, anh ạ. Bà viết mẩu giấy đó tay run. Em chỉ làm tiếp việc bà chưa kịp làm.
Anh Khôi im năm giây. Tôi đếm theo tiếng xe máy dưới đường. Chiếc AirBlade chạy qua, tiếng pô rền; sau đó là một chiếc Wave, rồi một chiếc tải nhỏ chở rau, máy lọc xọc. Trong năm giây đó, tôi nghe rõ tiếng thở của anh, đều và chậm, như tiếng thở của người đã quen kiềm chế từ lâu. Anh không cãi. Anh không giải thích thêm. Anh cúp máy. Không từ biệt, không “thôi anh cúp đây”, không một tiếng động nào báo hiệu sắp kết thúc, chỉ là một tiếng “tạch” rất nhẹ, và màn hình điện thoại tôi trở về danh bạ. Tên “Anh Khôi” nằm trên cùng, ngay dưới số gọi cuối. Bên dưới là “Cha”.
Tôi đứng giữa phòng, điện thoại trong tay. Màn hình sáng thêm vài giây nữa rồi tắt. Tôi không gọi lại. Ba năm làm báo, tôi học được rằng có những cuộc tranh luận kết thúc khi hai bên nhận ra mình đã nói hết điều cần nói. Anh Khôi không gọi để thuyết phục tôi. Anh gọi để tự nhắc mình rằng anh đã cố. Cố giữ cho gia đình yên ổn. Cố ngăn một đứa em họ đang làm điều mà cả nhà này, suốt năm mươi năm, chưa ai dám làm. Và có lẽ, cố để sau này, nếu có chuyện gì xảy ra, anh có thể tự nói với mình rằng anh đã lên tiếng.
Tôi bỏ điện thoại xuống giường, bước đến bàn, cầm mảnh thẻ bài lên lần nữa. Mảnh kim loại lạnh trong lòng bàn tay, cái lạnh rất nhẹ, rất cũ, như lạnh từ lòng sông thấm lên. Mép cắt còn sắc một chỗ, tôi đưa ngón tay cái miết dọc, không đủ sắc để đứt da. Chỉ đủ để nhắc tôi rằng mảnh này từng là một phần của thứ gì đó nguyên vẹn, và nó đã bị xé ra bằng tay, giữa một ngày tháng Tư năm bảy mươi hai, ở một nơi không ai trong gia đình tôi dám nhắc đến bằng tên.
Tôi mất hai phút mới bấm được số cha. Tôi không do dự, nhưng tay cứ dừng lại trên nút gọi mỗi khi nhìn thấy tên cha hiện lên. Tôi biết cuộc gọi này sẽ kéo một thứ từ đáy lên - một thứ mà cả cha tôi và anh Khôi đều đã cất rất sâu, mỗi người một cách. Anh Khôi cất bằng cách ngăn tôi. Cha tôi cất bằng cách im lặng. Và có lẽ sáng nay, cái im lặng của cha sẽ không còn nguyên vẹn nữa.
Cha bắt máy sau ba hồi chuông. Ở đầu dây bên kia, tôi nghe tiếng gió ù ù qua mái tôn chuồng gà, cái tiếng gió rất đặc trưng của vùng quê Nam Đàn mỗi sáng tháng Tư, lúc gió mùa Đông Bắc đã hết nhưng gió Lào chưa tới, chỉ còn gió đồng thổi ngang qua các lùm tre. Thoáng trong gió có tiếng gà cục tác xa xa, và một tiếng động nhẹ như tiếng rá gạo đặt xuống nền xi măng. Tôi hình dung cha vừa cho gà ăn xong, cái rá gạo còn kẹp dưới nách trái, tay phải cầm điện thoại, đứng tựa lưng vào cột hiên nhà bếp cũ, nơi sóng điện thoại mạnh nhất.
Cha dậy sớm chưa? Con nghe nói cha ốm.
Cha im. Tiếng rá gạo đặt xuống nền rõ hơn một chút, lần này là tiếng nhựa cứng chạm xi măng, khác hẳn tiếng tre đan. Có lẽ cha đã chuyển sang dùng rá nhựa từ lâu rồi, tôi không để ý. Gió vẫn ù ù, nhưng giọng cha thì không. Giọng cha trầm và chậm, cái trầm của người đã quen nghe mình nói ít hơn nghe người khác.
Tôi đếm ba mươi giây theo tiếng quạt trần trong phòng nhà nghỉ. Cánh quạt quay lệch tâm, mỗi vòng lại chạm nhẹ vào không khí một tiếng “lốp bap”. Tôi đếm từng vòng: một, hai, ba, rồi đến mười lăm. Cái im của cha sáng nay khác kiểu ít nói bình thường, khi cha ngồi hàng giờ ở bộ bàn uống nước ngoài hiên mà không mở lời. Nó là im của người đã giữ một câu rất lâu, và bây giờ, khi sắp buông ra, cần một khoảng trống để tự trấn tĩnh.
Cha không bệnh. Anh Khôi nói thế cho em về. Cha không cản em. Cha chỉ sợ.
Giọng cha trầm trầm, không run. Trầm như mặt nước sông Lam mùa cạn, nhìn tĩnh mà sâu. Tôi nghe mà ngực thắt lại vì biết câu tiếp theo sẽ là câu quan trọng nhất trong cuộc gọi này, và có lẽ là một trong những câu quan trọng nhất tôi từng được nghe từ cha mình. Tôi nhìn ra ban công. Nắng đã leo lên hết lan can, bắt đầu hắt vào trong phòng, đổ một mảng sáng lớn lên nền gạch chỗ tôi đứng. Bụi bay lơ lửng trong mảng sáng đó, những hạt bụi li ti xoay tròn rất chậm trong căn phòng đang nín lại.
Sợ cái gì hở cha?
Cha im lâu hơn. Tôi đếm năm mươi giây. Cánh quạt trần quay được thêm mười lăm, mười sáu vòng gì đó. Tiếng “lốp bap” đều đều như máy đếm nhịp. Dưới đường vọng lên tiếng còi xe máy ngắn. Một người bán hàng rong rao gì đó không rõ chữ.
Ở đầu dây bên kia, gió trên mái tôn chuồng gà nhà cha tôi vẫn ù ù, nhưng hình như nhẹ hơn một chút, có lẽ do ai vừa khép bớt cánh cửa sổ cái bếp ngang. Tôi không thúc. Làm báo mấy năm, tôi học được rằng im lặng lâu nhất thường mang câu trả lời ngắn nhất.
Và câu trả lời ngắn nhất thường là câu người ta đã giữ lại cả đời.
Bà ngày cuối đời nói một câu cha không hiểu. Bà nắm tay cha - cha đang lau mặt cho bà - bà nói: “Bình ơi, ông không chết đâu.” Cha không dám hỏi tiếp. Bà mất sáng hôm sau. Em hỏi thay cha.
Tôi dựa lưng vào tường cạnh cửa ban công. Mảnh gạch men lạnh dán vào vai áo qua lớp vải sơ mi mỏng. Tôi không nói gì ngay. Tôi để câu nói đó ở yên trong phòng, trước mặt mình. “Bình ơi, ông không chết đâu.” Bà tôi nói câu đó, tay run, nắm tay cha tôi, lúc cha đang lau mặt cho bà. Tôi nhắm mắt, hình dung bà nằm trên giường gỗ, chăn mỏng đắp đến ngực. Cha ngồi cạnh, tay cầm khăn ấm. Bà nhìn lên trần nhà hay nhìn ra cửa sổ? Bà gọi “Bình ơi” bằng giọng tỉnh táo cuối cùng, hay bằng tiếng thở đã lẫn cơn mê? Tôi không hỏi cha thêm chi tiết đó. Tôi biết cha sẽ không kể. Cha tôi chỉ kể những gì cần thiết. Phần còn lại, cha để người ta tự hiểu.
Tôi nhìn sang hộp gỗ trên bàn. Nắp đã mở từ hôm qua, mớ vật dụng xếp ngay ngắn trong ổ rơm: mảnh áo lính sờn cháy mép, bản đồ tay vẽ mực tím, phong bì giấy chè úa, mẩu giấy bà viết run tay với nét mực bi xanh nhòe một chỗ ở chữ “cẩn”. Bà viết câu cuối cùng bằng tay đã không còn đủ sức nắm chặt. Nhưng câu bà nói ra miệng, trong giây phút cuối cùng của cuộc đời, lại là câu mạnh nhất trong tất cả. “Ông không chết đâu.” Bà không dùng “ông ấy” hay “chú ấy”; bà nói “ông” - một cách gọi vừa thân vừa kính, vừa đặt người đó ở trong nhà.
Bà có nói thêm gì không cha?
Không. Chỉ một câu. Tay bà sau đó buông.
Tôi nhắm mắt. Hình dung bàn tay bà rơi xuống khỏi tay cha, nhẹ như một chiếc lá ổi khô ngoài vườn. Cha tôi chắc đã ngồi đó rất lâu sau khi tay bà buông, tay vẫn cầm chiếc khăn ấm đã nguội dần. Và rồi cha đứng lên, gọi các bác vào. Cha không kể cho ai câu cuối cùng đó. Cha giữ nó một mình. Năm tháng trời. Cho đến sáng nay, khi con gái cha gọi điện từ Quảng Trị về hỏi một câu không liên quan, và cha quyết định buông nó ra.
Vâng. Con sẽ hỏi.
Em đừng kể anh Khôi. Khôi sợ vì khác cha. Cha sợ vì biết bà còn giữ một thứ.
Cha cúp máy nhẹ. Không tạm biệt, không dặn dò. Chỉ một tiếng “tạch” nhỏ trong ống nghe, rồi im. Màn hình điện thoại trở về danh bạ. Tôi vẫn đứng dựa tường, điện thoại áp vào tai thêm vài giây nữa, nghe tiếng gió ù ù bên kia đã tắt hẳn.
Tôi bỏ điện thoại xuống giường, ngồi xuống mép nệm, hai tay buông thõng giữa hai đầu gối. Căn phòng nhà nghỉ im ắng trở lại, chỉ có tiếng quạt trần lốp bap từng vòng và tiếng xe máy thi thoảng vọng lên từ đường. Mùi gỗ mít từ hộp trên bàn lan ra, ấm và nhẫn, quyện với mùi ẩm cũ của căn phòng ven sông. Tôi ngồi đó, không khóc, không run, chỉ ngồi im và nhìn chằm chằm vào hộp gỗ.
Tôi trở vào phòng, cầm điện thoại lên lần nữa. Gọi Nguyện. Đồng hồ trên màn hình chỉ chín giờ ba mươi. Nguyện bắt máy sau hai hồi chuông, giọng tỉnh, phía sau có tiếng máy in kim kêu lạch cạch đều đều. Chắc em đang ở văn phòng Đội 584, ngồi cạnh cái máy in cũ in danh sách hài cốt tìm thấy đợt này.
Em nghe. Anh Hoài đấy à? Có chuyện gì không anh?
Tôi nhìn hộp gỗ trên bàn, mảnh thẻ bài bên cạnh phong bì lá thư. Câu hỏi của bà tôi vừa được trao cho tôi qua điện thoại, giờ tôi sắp trao nó tiếp cho một người khác. Tôi sẽ không kể lại ngay lập tức. Tôi sẽ hỏi xin một cuộc gặp.
Anh đến được chưa? Mười giờ anh qua văn phòng Đội.
Được chứ. Có việc gì gấp à?
Anh muốn hỏi đội trưởng Khôi - Khôi Vĩnh Linh - về kế hoạch lặn Nhan Biều. Anh muốn biết khi nào thì lặn được.
Vâng. Anh qua đi, em giới thiệu. Đội trưởng sáng nay có ở đội. Đang họp giao ban nhưng chắc mười giờ là xong.
Mười giờ anh có mặt. Đem theo hộp gỗ và mảnh thẻ bài.
Nguyện im một nhịp. Tôi nghe tiếng máy in ngừng lạch cạch, có lẽ em vừa quay người ra xa máy hơn để nghe rõ. Rồi em nói gọn:
Vâng.
Mười giờ, tôi sẽ mang hộp gỗ và mảnh thẻ bài tới Đội 584. Câu hỏi của bà đi cùng tôi, nằm sát ngực như mảnh kim loại lạnh.