Đáy sông - Chương 5: Sông gọi
Mưa Quảng Trị đến lúc mười một giờ đêm. Đầu mùa. Bất thường. Tôi nằm trên giường nhà nghỉ, phong bì lá thư để trên gối bên cạnh. Trang thứ hai tôi chưa…
Nội dung chương
Mưa Quảng Trị đến lúc mười một giờ đêm. Đầu mùa. Bất thường.
Tôi nằm trên giường nhà nghỉ, phong bì lá thư để trên gối bên cạnh. Trang thứ hai tôi chưa đọc. Đoạn tái bút vẫn còn đó, nét chữ khác nghiêng về bên phải nhiều hơn trang đầu, như người viết vội. Tôi định đọc tiếp nhưng mắt đã díp lại. Tiếng mưa trên mái tôn đều đều. Quạt trần quay chậm. Cửa sổ phòng tôi đã đóng từ chín giờ, chốt ngang.
Tôi thiếp đi lúc nào không rõ.
Trong mơ, tôi đứng giữa dòng Thạch Hãn.
Nước đến ngang ngực. Lạnh. Nó không buốt ngay mà âm ỉ thấm từ bụng lên ngực, như nước sông đã chảy qua rất nhiều lớp cát trước khi chạm vào tôi. Hai tay tôi nâng ai đó. Người đó nhẹ. Nhẹ hơn bất kỳ người sống nào tôi từng bế. Và lạnh. Lạnh hơn nước sông. Tôi không nhìn thấy mặt người đó. Đầu người ấy ngửa ra sau, tóc chạm nước. Tay người ấy buông thõng. Tôi bước về phía trước. Đáy sông dưới chân tôi cứng, không lún.
Phía bờ Bắc có ánh đèn dầu nhỏ. Vàng. Lay động. Đó là lửa thật, cháy trong bóng tối ẩm ướt, leo lét như sắp tắt mà không tắt.
"Còn một quãng nữa thôi," tôi nghĩ. "Mình sắp tới nơi rồi."
Tiếng gọi từ phía sau lưng tôi. Nó nhỏ và bình thường, như gọi người quen đứng cách ba mét.
"Trung ơi."
Giọng đàn ông. Trẻ. Giọng ấy không giống giọng tôi.
Tôi quay đầu. Nước xoáy vào hông. Không có ai phía sau. Chỉ có mặt sông đen, mưa rơi trên mặt nước không tiếng động.
"Trung ơi."
Lần thứ hai. Lần này gần hơn.
Tôi mở mắt.
Trần nhà trắng. Quạt trần vẫn quay. Tiếng mưa đã ngớt. Đồng hồ trên điện thoại chỉ ba giờ sáng.
Tôi nằm im trong năm giây. Mơ thôi - tôi tự nhủ. Nhưng có gì đó không đúng. Áo phông tôi đang mặc ướt đẫm từ ngực xuống thắt lưng. Vải dính vào da. Lạnh. Tôi đưa tay sờ bụng. Nước. Mồ hôi không bao giờ lạnh như thế này vào tháng Tư Quảng Trị.
Tôi ngồi dậy. Bật đèn ngủ. Áo phông màu xám nhạt giờ thành xám sẫm từ ngực trở xuống. Tôi cúi xuống ngửi. Mùi tanh. Không giống tanh cá chợ. Tanh bùn sông. Tanh của nước đã chảy qua rễ cây và đất sét và những thứ nằm dưới đáy lâu ngày không ai động đến.
Cửa sổ phòng vẫn đóng. Chốt ngang còn nguyên. Cửa chính khoá trong. Không ai vào.
Tôi ngồi trên mép giường khoảng một phút. Tay trái đặt lên ngực áo ướt. Tim đập chậm. Tôi không sợ. Hoặc có sợ, nhưng nỗi sợ ấy không giống sợ bóng tối. Tôi sợ mình đã bỏ lỡ một dấu hiệu. Ai đó đã gọi "Trung ơi" trong giấc mơ của tôi. Ông nội tôi tên Trung. Ông nội tôi chết trên sông này năm 1972. Tôi chưa từng mơ thấy ông bao giờ.
Tôi lột áo. Đem ra ban công.
Sàn ban công là xi măng nhám, còn đọng nước mưa từ đêm. Tôi vắt áo. Nước từ áo rơi xuống sàn thành từng giọt. Không nhiều. Nhưng đủ để tạo một vũng nhỏ bằng lòng bàn tay. Trong ánh đèn đường hắt lên từ dưới phố, tôi thấy có gì đó trong vũng nước. Lấm tấm. Không giống bụi.
Tôi ngồi xuống. Tay không chạm vào vũng. Tôi nhìn.
Ba hạt cát.
Chúng nhỏ hơn hạt vừng. Mịn. Nhưng không tròn như cát biển. Có cạnh. Màu không vàng nhạt hay trắng ngà. Màu đỏ. Đỏ gạch non. Đỏ như đất bazan nhưng sẫm hơn, như đã nung qua lửa.
Tôi nhặt từng hạt lên lòng bàn tay trái. Chúng dính vào da ướt, không rơi. Tôi ngồi đó trên ban công, lưng dựa tường, ba hạt cát trong tay, nhìn trời chuyển từ đen sang xám nhạt. Tiếng xe máy đầu tiên trong ngày vọng từ đường Hai Bà Trưng. Gà nhà ai gáy. Tôi không nhúc nhích.
Ba hạt cát. Từ áo tôi. Áo ướt nước sông. Cửa sổ đóng.
Tôi không tìm cách giải thích.
Tôi đã làm phóng viên tám năm. Tôi biết có những thứ không cần giải thích ngay. Chỉ cần ghi nhận. Dữ kiện: Áo ướt. Nước sông. Cát đỏ. Cửa sổ đóng. Giấc mơ có tiếng gọi ông nội tôi bằng tên thật. Đó là dữ kiện. Giải thích để sau.
Sáu giờ rưỡi sáng. Tôi mặc áo khác. Ba hạt cát tôi gói trong mảnh giấy ăn, nhét vào túi quần. Ra khỏi nhà nghỉ.
Quán Bà Hai chưa mở cửa hẳn. Bà đang quét sân. Cây chổi tre cùn quét qua quét lại trên nền xi măng trước quán, tiếng xoèn xoẹt đều đều. Bà không ngẩng lên khi tôi đến. Chỉ khi tôi đứng cách bà hai mét, bà mới dừng chổi.
"Cậu Hoài. Sớm rứa."
"Cháu chào mệ."
Bà Hai dựng chổi vào cột hiên. Đưa tay vuốt mái tóc bạc đã ướt mồ hôi dù sáng sớm. Bà mặc áo bà ba nâu, quần đen. Chân đi dép cao su mòn gót. "Vô trong. Mệ pha nước."
Tôi ngồi xuống ghế tre cạnh bàn gỗ trước quán. Bà Hai bưng ra hai cốc nước vối còn ấm, đặt một cốc trước mặt tôi. Bà không ngồi. Đứng nhìn tôi. Mắt bà đục nhưng còn tinh. Tôi biết bà đang đợi.
Tôi rút mảnh giấy ăn trong túi quần ra. Mở. Ba hạt cát đỏ nằm giữa lòng bàn tay trái tôi. Tôi chìa ra.
"Mệ. Cát ni cháu lấy từ đâu, mệ biết không?"
Tôi không định dùng từ "ni". Nhưng nó tự bật ra. Tiếng Quảng Trị đầu tiên tôi nói trong đời. Tôi không biết tại sao.
Bà Hai nhìn ba hạt cát. Bà không cầm. Không chạm. Mắt bà dừng lại trên lòng bàn tay tôi ba giây. Rồi mắt bà nhìn lên mặt tôi. Ánh mắt bà đổi. Không có sợ hãi. Cũng không có ngạc nhiên. Một thứ gì đó giữa nhận ra và xác nhận. Như bà đã chờ điều này từ lâu.
"Cát Bắc Thạch Hãn."
Bà nói chậm. Từng từ một.
"Bãi ni từ năm bảy mươi ba người ta đã san phẳng để làm bờ kè. Chừ không còn nữa. Cháu lấy ở đâu?"
Tôi không trả lời. Tôi đặt ba hạt cát lên mặt bàn gỗ. Chúng không lăn. Chúng dính vào nhau vì còn hơi ẩm từ tay tôi. Bà Hai nhìn chúng. Rồi bà ngồi xuống ghế đối diện. Bà không hỏi lại. Bà với tay lấy cốc nước vối, uống một ngụm. Bàn tay bà run nhẹ - nhưng tôi không chắc có phải vì tuổi không.
"Đêm rằm còn năm hôm nữa."
Giọng bà bình thường trở lại. Nhưng câu nói không bình thường. Nó không liên quan đến câu hỏi. Hoặc có liên quan, nhưng tôi chưa biết.
"Cháu đừng ra sông một mình."
Tôi nhìn bà. Bà không nhìn tôi. Bà nhìn ba hạt cát trên bàn. Gió sáng thổi từ phía sông vào, mang theo mùi bùn khô và dầu diesel từ thuyền đánh cá đậu dưới bến. Ba hạt cát không bay đi.
"Mệ nói đêm rằm - rằm tháng mấy ạ?"
Bà Hai đặt cốc nước xuống. "Đêm rằm còn năm hôm."
Tôi không nói gì. Bà Hai đứng dậy. Vào trong quán. Một lát sau bà quay ra, trên tay cầm một mảnh giấy gói nhỏ bằng bao thuốc lá. Bà ngồi xuống, đặt mảnh giấy lên bàn bên cạnh ba hạt cát.
"Cháu giữ. Mệ không cầm."
Tôi nhìn mảnh giấy. Giấy trắng, gấp làm tư, hơi nhàu. Tôi không mở ra.
"Cát ni không giống cát thường," Bà Hai nói. "Cát Bắc Thạch Hãn trước năm bảy mươi ba. Hồi đó sông chưa bị nạo vét. Bãi ni là bãi cát đỏ. Sau chiến dịch tám mươi mốt ngày, người ta san phẳng hết. Kè đá chạy dọc bờ Bắc từ năm bảy mươi tư. Cả xóm ni không ai còn thấy hạt cát đỏ nào từ hồi đó."
Bà dừng. Nhìn tôi.
"Trừ đêm rằm. Nhưng chừ chưa tới rằm."
Tôi cầm mảnh giấy gói lên. Mở ra. Đặt ba hạt cát từ bàn vào trong. Gấp lại. Bỏ vào túi áo ngực. Tôi không biết tại sao mình làm vậy. Nhưng cảm giác trong tay khi chạm vào hạt cát không hề xa lạ. Như tôi đã từng cầm thứ cát này trước đây. Rất lâu.
"Bữa qua mệ có nói về đêm rằm," tôi nói. "Mệ bảo sông mở cửa."
Bà Hai gật. "Đêm rằm, sông mở cửa. Người chưa về - họ về. Không phải ma. Họ là người. Họ đứng dưới nước. Họ đợi."
Bà ngừng. Tay bà vuốt mép cốc nước vối đã nguội.
"Cả đời mệ ngồi quán ni. Năm nào cũng có người tới hỏi đường ra bến. Có người hỏi chỗ thả hoa đăng. Có người hỏi chỗ lội ra bãi cát giữa dòng. Mệ nói với tất cả: đừng ra sông một mình đêm rằm. Nhưng riêng cậu..."
Bà nhìn tôi. Mắt bà không đục nữa. Trong veo như nước sông mùa cạn.
"Cậu có duyên với sông."
Tôi không hỏi "duyên" nghĩa là gì. Tôi biết bà sẽ không giải thích. Những người già Quảng Trị không giải thích mấy thứ này. Họ nói ra như nói thời tiết - mai có mưa, năm nay sông cạn hơn năm ngoái, cậu có duyên với sông. Những câu đó ngang hàng với sự thật.
"Cháu gặp ai trong mơ rồi phải không?"
Giọng bà nhẹ. Câu hỏi ấy nghe như một lời xác nhận.
Tôi gật. "Cháu không thấy mặt. Nhưng có người gọi tên ông nội cháu."
"Tên chi?"
"Trung. Nguyễn Văn Trung."
Bà Hai im lặng. Rất lâu. Lâu đến mức tôi tưởng bà sẽ không nói gì nữa. Gió sông thổi qua quán. Lá khô rơi trên mái tôn. Xa xa có tiếng còi tàu từ ga Đông Hà vọng lại.
"Trung," bà lặp lại. Giọng bà không có gì đặc biệt. Nhưng cách bà nói cái tên đó - nhẹ và chậm - làm tôi thấy lạnh sống lưng. Không vì sợ. Vì cảm giác tôi đã nghe giọng này nói tên "Trung" ở đâu đó rồi. Trước cả khi tôi sinh ra.
"Mệ biết tên ni không?" tôi hỏi.
Bà Hai không trả lời thẳng. Bà đứng dậy. Đi ra phía trước quán, đứng nhìn xuống bến sông. Tôi đi theo. Sáng sớm, mặt sông Thạch Hãn phẳng lặng. Nước cạn. Từ trên bờ có thể thấy bãi cát giữa dòng đã lộ - dải cát dài chừng hai chục mét, vàng nhạt, không có gì đặc biệt. Nhưng bà Hai không nhìn bãi cát đó. Bà nhìn sang bên trái. Phía Bắc. Phía Nhan Biều.
"Bác Tâm có tới quán tối hôm qua không?" tôi hỏi.
"Không," Bà Hai nói. "Bác Tâm tối qua không tới."
Tôi không hỏi thêm. Bà Hai cũng không nói thêm. Chúng tôi đứng đó một lúc. Nắng bắt đầu lên. Mặt sông chuyển từ xám sang xanh nhạt. Trên bờ bên kia, mấy người phụ nữ đang giặt quần áo. Tiếng đập vải trên đá vọng qua sông, lẫn trong tiếng nước chảy.
"Đêm rằm còn năm hôm nữa," Bà Hai lặp lại. Lần này bà quay lại nhìn tôi. "Cháu đừng ra sông một mình."
Bà Hai đi vào quán. Tôi đứng lại ngoài bến thêm năm phút, nhìn bãi cát giữa dòng. Nước còn thấp. Tôi nghĩ đến tấm bản đồ trong hộp gỗ, đến chấm tròn đỏ ở Nhan Biều, đến ba hạt cát trong túi áo.
"Cháu giữ," Bà Hai đã nói. "Mệ không cầm."
Tôi lấy mảnh giấy ra kiểm tra lại. Gói giấy nhỏ nằm gọn trong lòng bàn tay, nhẹ đến mức nếu không nhìn, tôi có thể quên nó ở đó. Ba hạt cát bên trong không kêu, không lăn, không có trọng lượng. Vậy mà khi đặt vào túi áo, tôi thấy ngực mình nặng thêm. Không nhiều. Chỉ đủ để mỗi nhịp thở chạm vào nó.
Tôi nhìn sang phía quán. Bà Hai đã quay lưng, cúi xuống nhóm lại bếp than. Khói mỏng bò qua mái lá rồi tan trong nắng sớm. Bà không nhìn ra bến nữa. Lời dặn của bà nằm lại sau lưng tôi, khô và chắc như viên sỏi trong túi áo.
Tôi gật. Không hứa.