Đáy sông - Chương 2: Phóng viên thường trú

Lễ phát động bắt đầu lúc tám giờ sáng ngày hai tháng Tư, 2026. Tôi xem livestream trên điện thoại, trong văn phòng báo chật tiếng máy lạnh cũ. Phó Thủ…

Nội dung chương

Lễ phát động bắt đầu lúc tám giờ sáng ngày hai tháng Tư, 2026.

Tôi xem livestream trên điện thoại, trong văn phòng báo chật tiếng máy lạnh cũ. Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà đứng trên bục gỗ đặt giữa sân Thành Cổ. Sau lưng bà là đài tưởng niệm hình nấm mộ chung. Trước mặt là mấy trăm người mặc lễ phục quân đội và sơ mi trắng. Gió Quảng Trị hất vạt áo bà. Micro rè một nhịp, rồi giọng Hà Nội chuẩn vang lên:

"Chiến dịch 500 ngày đêm bắt đầu từ ngày mười lăm tháng Ba năm nay. Mục tiêu là quy tập bảy nghìn hài cốt liệt sĩ và thu nhận mười tám nghìn mẫu ADN thân nhân, hoàn thành trước ngày hai mươi bảy tháng Bảy năm hai nghìn không trăm hai mươi bảy."

Camera lia qua hàng cờ đỏ, qua dãy băng rôn trắng in chữ xanh "Đền ơn đáp nghĩa", rồi dừng ở hàng ghế cựu chiến binh. Ai cũng đeo huân chương trên ngực trái. Có ông già đội mũ cối ngồi im, tay đặt lên đầu gối run nhẹ.

"Chiến dịch đặt mục tiêu trung gian năm trăm hài cốt trước ngày hai mươi bảy tháng Bảy năm nay. Đây là chỉ tiêu khả thi. Nhưng nó đòi hỏi nỗ lực phối hợp của các địa phương, đơn vị quân đội, và sự hỗ trợ của nhân dân cả nước."

Tôi tắt livestream khi Phó Thủ tướng cúi xuống nhận vòng hoa từ một thiếu nữ áo dài trắng.

Buổi chiều cùng ngày, tổng biên tập gọi tôi vào phòng. Ông ngồi sau bàn gỗ lớn, tách trà đã nguội từ sáng, mắt không nhìn tôi khi nói:

"Cậu về Quảng Trị. Làm phóng viên thường trú theo chiến dịch. Sáng mai có quyết định chính thức, nhưng tôi báo trước để cậu chuẩn bị."

Tôi hỏi thời hạn. Ông bảo sáu tháng, có thể gia hạn. Tôi không nói gì thêm. Về chỗ ngồi, tôi mở máy tính. Vé tàu SE7 đêm thứ Năm, ga Hà Nội đi Đông Hà, còn giường nằm tầng một. Giá sáu trăm hai mươi nghìn đồng.

Tối thứ Năm, tôi ra ga trong cơn mưa lất phất đầu hạ. Ba lô sau lưng đựng ba bộ quần áo, máy ghi âm, máy ảnh, sổ phóng viên, và hộp gỗ mít của bà nội. Hộp gỗ tôi gói trong áo mưa, nhét dưới đáy ba lô, cạnh túi thuốc và bàn chải đánh răng.

Tàu chạy lúc chín giờ tối. Mười tám tiếng trên đường sắt Bắc-Nam. Tôi nằm trên giường hẹp, nghe bánh tàu nghiến qua từng thanh ray, qua Nam Định, qua Thanh Hóa, qua Vinh. Khi tàu qua ga Vinh lúc năm giờ sáng, tôi mở mắt. Sương trắng ngoài cửa kính. Quê cha tôi cách ga này ba chục cây số về phía Tây: Nam Đàn, Nghệ An. Ông nội tôi sinh ở đó năm 1953. Bà nội tôi chết ở đó tháng Chín năm ngoái. Tàu không dừng đủ lâu để tôi xuống. Tôi nằm lại, nhìn trần toa màu kem bong tróc từng mảng.

Tàu đến Đông Hà lúc ba giờ chiều thứ Sáu. Nắng Quảng Trị đập thẳng vào mặt khi tôi bước xuống sân ga. Gió Lào khô và nóng, mang theo mùi cát và mùi kim loại gỉ từ những thanh tà vẹt cũ. Tôi bắt taxi chạy mười ba cây số về phía Nam, dọc Quốc lộ Một. Hai bên đường, ruộng lúa tháng Tư xanh ngắt đến chân núi.

Tài xế là người địa phương, chừng năm mươi tuổi, giọng Quảng Trị đặc:

"Anh về Thành Cổ hè?"

"Tôi ở lại một thời gian. Có nhà nghỉ nào quanh đây không?"

"Có cái nhà nghỉ đường Hai Bà Trưng. Cách cổng thành tám trăm mét. Phòng sạch, giá bình dân."

Tôi thuê phòng ở đó. Tầng hai, cửa sổ hướng Tây, ban công xi măng nhỏ đủ kê một cái ghế nhựa. Phòng mười hai mét vuông. Giường đơn, bàn gỗ ép, tivi cũ treo tường không bật được. Điều hòa chạy ồn. Tủ quần áo hai cánh lệch bản lề. Phòng tắm có vòi sen nhựa, gạch men nâu, mùi xà phòng rẻ tiền.

Tôi trả tiền phòng một tháng trước. Chị chủ nhà nghỉ - một phụ nữ tầm năm mươi, tóc uốn xoăn, áo hoa - đưa tôi chìa khóa và hỏi tôi ở đâu về.

"Hà Nội."

"Xa rứa. Làm chi ngoài ni?"

"Tôi làm báo. Theo chiến dịch quy tập."

Chị gật đầu, không hỏi thêm. Đưa tôi thêm cái quạt bàn dự phòng.

Tối đầu tiên, gió Lào đập cửa sổ liên hồi. Tôi mở cửa ban công cho thoáng, nhưng gió tạt vào nóng rát, mang theo bụi cát mịn bám lên mặt bàn. Tôi đóng cửa lại, bật điều hòa, ngồi xuống giường, kéo ba lô lên.

Tôi lấy hộp gỗ ra khỏi lớp áo mưa. Hộp gỗ mít mười hai năm tuổi, màu nâu trầm, nắp trượt đã mòn vẹt ở rãnh. Tôi mở nắp, lấy từng vật một đặt lên bàn: mảnh áo lính sờn vai trái, cháy mép, vệt máu khô đã đen. Lá thư gấp tư, giấy màu chè úa, mực Cửu Long pha nước, nét chữ nghiêng về bên phải. Mẩu giấy nhỏ chữ bà nội run tay. Bản đồ tay vẽ mực tím.

Tôi dán bản đồ lên tường, ngay phía trên bàn làm việc. Dùng băng dính trong dán bốn góc. Bản đồ vẽ hình lưỡi sông Thạch Hãn uốn cong qua thị xã Quảng Trị. Nó đi từ Cồn Hến phía Bắc, qua làng Nhan Biều, qua Thành Cổ, rồi xuôi về phía Nam ra Cửa Việt. Có một chấm tròn đỏ ở khúc cong phía Bắc, nơi dòng sông bẻ ngoặt về hướng Đông. Nét chấm đỏ hơi nhòe. Mực tím ngấm vào giấy kẻ ô ly học sinh. Nét vẽ thuộc về một bàn tay trẻ, không chuyên, nhưng cẩn thận.

Dưới chấm đỏ, có ghi ba chữ nhỏ: "Nhan Biều."

Tôi đứng lùi lại, nhìn bản đồ từ xa. Chấm đỏ ấy rơi đúng vào khúc sông mà bà nội tôi đã đánh dấu. Đó là nơi ông nội tôi vượt sông đêm 14 tháng Chín, 1972. Theo hồ sơ của Ban Quản lý Di tích mà tôi chưa kịp đọc, ông hy sinh ở đó. Cha tôi cũng chỉ kể chừng ấy từ hồi tôi còn nhỏ: "Ông nội con chết ở Thạch Hãn. Xác không tìm thấy."

Tôi chưa bao giờ hỏi kỹ hơn. Cha tôi chưa bao giờ kể thêm.

Tôi ngồi xuống giường, cầm lá thư lên. Lần đầu tiên tôi mở nó kể từ đám 49 ngày của bà nội. Khi ấy, trong căn nhà cấp bốn ở Nam Đàn, giữa mùi nhang và tiếng tụng kinh, tôi chỉ mở hộp. Tôi nhìn thoáng qua bốn vật, rồi đóng lại. Cảm giác lúc đó là của một người chưa sẵn sàng.

Bây giờ tôi ở trong căn phòng mười hai mét vuông tại thị xã Quảng Trị. Thành Cổ cách đây tám trăm mét. Một mình, tôi mở lá thư ra.

Phong bì đã rách ở mép gấp. Không có tem. Trên phong bì, dòng chữ nghiêng mực tím đã nhòe: "Cô Nguyễn Thị Liên - cứu thương Trường Bồ Đề."

Tôi rút thư ra. Hai trang giấy kẻ ngang, màu chè úa, mép giấy đã mủn. Chữ viết tay nắn nót. Mực Cửu Long pha nước nên có chỗ nhạt, có chỗ đậm. Có chỗ nét bút rẽ đôi vì ngòi bút cũ.

Tôi đọc dòng đầu tiên.

"Liên ơi,"

Tôi gấp thư lại. Ngay lập tức. Không phải vì xúc động. Tôi dừng tay vì không biết Liên là ai. Lá thư này có thể do ông nội tôi viết, vì nét chữ giống dòng tái bút ở trang hai mà tôi chưa đọc. Nhưng người nhận lại mang một cái tên khác. Bà nội tôi tên Hậu. Phạm Thị Hậu. Bà sống ở Nam Đàn sáu mươi năm. Bà chờ chồng ba năm trước khi nhận tin ông hy sinh, nuôi con một mình, không lấy ai khác. Bà chết lúc bảy mươi mốt tuổi với một hộp gỗ mít trên tủ thờ.

Tôi đặt lá thư lên bàn, mặt chữ úp xuống. Ngoài cửa sổ, gió Lào không đổi chiều. Tiếng tivi phòng bên vọng qua tường. Chương trình thời sự đang đọc tin về chiến dịch quy tập, giọng Quảng Trị lơ lớ.

Tôi ngồi yên hai mươi phút. Đèn bàn chiếu vàng lên mảnh áo lính. Vải xanh bộ đội đã bạc, mép cháy sém cuộn lại, để lộ lớp vải lót mỏng hơn. Vệt máu khô màu nâu đen loang từ vai xuống ngực, không nhiều, cỡ bằng hai ngón tay chụm lại.

Tôi nghĩ: Tên bà nội tôi là Hậu. Lá thư của ông tôi không gửi cho bà. Tôi đến đây để tìm ông. Nhưng Liên là ai? Còn sống hay đã chết? Nếu còn sống, bà ấy đã nhận được lá thư này chưa? Nếu chưa, tại sao nó lại nằm trong hộp gỗ của bà nội tôi?

Tôi không có câu trả lời. Tôi cất lá thư vào hộp. Đóng nắp. Tắt đèn. Nằm xuống giường, nghe gió Lào đập cửa sổ đến tận nửa đêm.

Sáng thứ Bảy, tôi dậy lúc năm giờ ba mươi lăm. Trời Quảng Trị sớm tháng Tư mát lạ thường - sương mỏng trên mái tôn, gió chùng, không còn hơi nóng của đất ban chiều. Tôi mặc áo sơ mi trắng, quần jeans, giày vải, đeo máy ảnh ngang vai, rời nhà nghỉ lúc sáu giờ.

Tôi đi bộ dọc đường Hai Bà Trưng về hướng Đông. Đường nhựa rộng, hai bên trồng bàng Đài Loan, gốc quét vôi trắng. Sáng thứ Bảy, phố vắng. Quán cà phê cóc vừa dựng bàn, mùi cà phê phin thoảng qua. Một người đàn ông chở rau bằng xe máy cũ chạy ngang, bó cải thảo buộc sau yên. Con chó vàng nằm ngủ trước cửa tiệm tạp hóa đóng kín.

Sáu giờ mười lăm, tôi đến cổng Thành Cổ. Cổng chưa mở. Hai cánh cổng sắt lớn màu xanh rêu. Phía trên gắn biển "KHU DI TÍCH LỊCH SỬ QUỐC GIA THÀNH CỔ QUẢNG TRỊ." Tôi ngồi xuống bậc đá trước cổng. Đá xanh, mát, bề mặt bào nhẵn bởi thời gian và chân người.

Tôi ngồi đấy, chờ. Gió sớm thổi qua hàng cây keo trong sân thành, lá va vào nhau nghe như tiếng nước chảy xa. Từ trong thành, tiếng chim sẻ kêu lích chích trên những bức tường đổ. Tôi không sốt ruột. Tôi đã chờ ba mươi hai năm để đến đây, chờ thêm mười lăm phút không đáng kể.

Sáu giờ ba mươi, tôi nghe tiếng xe đạp lọc cọc bên trong sân. Bánh xe lăn trên gạch, xích xe khô dầu kêu ken két theo từng vòng quay. Tiếng động mỗi lúc một gần.

Cánh cổng sắt nhỏ bên hông mở ra. Một phụ nữ trẻ dẫn xe đạp bước ra. Cô chừng hai mươi tám tuổi, tóc buộc đuôi gà. Áo sơ mi xanh ban quản lý bỏ ngoài quần vải đen, chân đi dép tổ ong. Xe đạp nữ màu xanh cũ, giỏ xe đựng một cặp tài liệu bọc da nâu đã sờn.

Cô ấy thấy tôi ngồi trên bậc đá. Dừng lại, tay vẫn cầm ghi-đông, mắt nâu nhìn tôi qua cánh cổng đang mở. Sương sớm còn vương trên vai áo cô, trên mái tóc, trên cái ghi-đông xe đạp. Cô không nói gì ngay. Đứng yên, quan sát tôi - một người lạ ngồi trước cổng thành lúc sáu rưỡi sáng, áo sơ mi trắng, máy ảnh ngang vai.

"Anh tìm ai?" Cô hỏi.

Giọng Quảng Trị nhẹ, không đặc, pha phổ thông. Tôi đứng lên khỏi bậc đá. Đầu gối hơi mỏi vì ngồi lâu trên đá lạnh.

"Tôi tìm ông tôi."

Cô không hỏi thêm. Mắt cô liếc nhanh qua máy ảnh của tôi, rồi quay lại mặt tôi. Tay cô đẩy xe sang một bên, dựng chống xe lên, quay người mở rộng cánh cổng sắt nhỏ.

"Vào đi anh. Phòng tư liệu chưa mở. Đợi em."

Tôi bước qua cổng. Sân Thành Cổ trải ra trước mặt, lát gạch nung đỏ, cỏ mọc ở những khe hở. Những bức tường thành đổ phủ rêu xanh, dây leo chằng chịt trên gạch vỡ. Ở trung tâm, đài tưởng niệm hình nấm mộ chung đứng sừng sững dưới ánh sáng sớm. Gió thổi qua sân, mang theo mùi cỏ ướt và mùi đá cũ.

Tôi đứng yên một lát, hít thở. Không khí ở đây không giống bất cứ nơi nào tôi từng đến. Nó không lạnh, nhưng có một sức nặng gì đó đè lên ngực - không khó chịu, chỉ là hiện diện.

Người phụ nữ dắt xe đạp đi trước, hướng về dãy nhà cấp bốn phía trái. Tôi đi theo, cách cô ấy chừng ba bước chân. Áo xanh của cô ấy ướt sương ở vai, vết ướt lan rộng như bản đồ một con sông nhỏ. Tôi không biết cô ấy tên gì. Nhưng tôi biết - bắt đầu từ sáng nay - tôi không còn một mình ở Thành Cổ này.

Chương khác

Xem thêm