Trùng Tang Bên Sông Đuống - Chương 1: Trùng Tang Bên Sông Đuống
Chạng vạng ngày hai mươi tám tháng mười một năm một nghìn chín trăm chín mươi hai, trời làng Vân Khê đổ một màu chì xám. Mây từ phía sông Đuống kéo về,…
Nội dung chương
Chạng vạng ngày hai mươi tám tháng mười một năm một nghìn chín trăm chín mươi hai, trời làng Vân Khê đổ một màu chì xám. Mây từ phía sông Đuống kéo về, nặng như chì nung, ép xuống tận ngọn cau trong vườn nhà họ Nguyễn. Gió bấc luồn qua khe cửa năm gian, rít lên những tiếng dài như ai đó thở than.
Nguyễn Văn Thành dựng chiếc xe đạp cà tàng của khách vào góc sân, phủ tấm bạt lên rồi phủi tay vào quần. Anh hai mươi tám tuổi, con thứ của ông Nguyễn Văn Lộc, làm nghề sửa xe đạp ở thị trấn cách làng ba cây số. Tiệm sửa xe của anh nằm ngay đầu chợ thị trấn, chỉ là một gian lán lợp tôn, nhưng nhờ tay nghề cẩn thận, khách quen cũng đủ nuôi vợ chồng anh qua ngày.
Chiều nào Thành cũng đạp xe về trước khi trời tối hẳn. Con đường từ thị trấn về làng Vân Khê men theo bờ sông Đuống, hai bên là cánh đồng vừa gặt xong, trơ gốc rạ. Những buổi chạng vạng như hôm nay, sương từ mặt sông bốc lên, quấn lấy bánh xe, lạnh buốt cả ống quần. Thành vẫn thích con đường ấy. Nó đưa anh về nhà, về với vợ là Phạm Thị Lành, về với mâm cơm chiều có cha mẹ, có vợ chồng anh cả và thằng cháu Đức lém lỉnh.
Nhà họ Nguyễn là ngôi nhà cổ năm gian, mái ngói rêu phong, sân gạch Bát Tràng đã mòn vẹt dấu chân mấy đời người. Sau nhà là giếng khơi đào từ thời ông nội Thành, bên cạnh là vườn cau xanh mướt quanh năm. Ông Lộc vẫn tự hào bảo: nhà mình có giếng có vườn, có đất ven sông, là phúc ba đời để lại.
Hôm nay trong nhà im ắng lạ thường. Mùi cơm mới nấu thoảng ra từ gian bếp, nhưng không nghe tiếng mẹ anh lạch cạch nồi niêu, cũng không nghe tiếng cháu Đức ê a học bài. Thành đẩy cửa bước vào, thấy mẹ là bà Trần Thị Nhàn đang ngồi thừ bên mâm cơm đã dọn sẵn, mắt nhìn đăm đăm ra khoảng sân sau.
- Mẹ, bố đâu rồi ạ? - Thành hỏi, vừa cởi áo khoác.
Bà Nhàn giật mình, như vừa tỉnh khỏi cơn mê.
- Bố mày bảo ra giếng múc nước tắm từ lúc gà chưa vào chuồng. Giờ này còn chưa thấy vào. Mẹ gọi mấy câu mà không thấy thưa.
Thành nhìn ra ngoài trời. Bóng tối đã bò lên đến lưng chừng vườn cau. Giếng khơi nằm sau nhà, cách gian bếp chừng hai mươi bước chân. Ông Lộc có thói quen chiều chiều ra giếng múc mấy gầu nước giếng để tắm, bảo nước giếng mát hơn nước máy, tắm vào ngủ ngon. Thói quen ấy giữ đã mấy chục năm, từ hồi Thành còn bé tí.
- Chắc bố mải ngắm vườn cau. Để con ra gọi bố vào ăn cơm.
Thành xỏ đôi dép, men theo lối đi lát gạch ra sân sau. Mùi hoa cau thoảng trong gió bấc. Vườn cau tối sẫm, những tàu lá xào xạc va vào nhau. Đến gần giếng, anh khựng lại.
Cái gầu gỗ nằm lăn lóc bên thành giếng, dây gầu đứt phựt một đầu, đầu kia thõng xuống miệng giếng đen ngòm. Và ông Lộc nằm úp mặt xuống đất, một tay vẫn vươn về phía thành giếng, như đang cố níu lấy một vật gì trong giây phút cuối cùng.
- Bố!
Thành lao tới, lật người cha lên. Mặt ông Lộc trắng bệch, môi tím ngắt, hai mắt trợn ngược chỉ còn lòng trắng. Trên cổ ông có những vết bầm tím sẫm, hình thù kỳ dị như dấu ngón tay, nhưng to hơn ngón tay người thường, dài ngoằng và cong queo như móng chim. Thành áp tai vào ngực cha. Im lặng. Không một nhịp đập. Lồng ngực lạnh ngắt, cứng đờ.
Anh gào lên, tiếng gào xé toang buổi chạng vạng. Bà Nhàn từ trong nhà chạy bổ ra, nhìn thấy chồng thì ngã quỵ xuống nền đất, miệng ú ớ không thành tiếng. Lành từ gian bếp chạy ra, mặt cắt không còn giọt máu, tay còn cầm đôi đũa cả.
Cả xóm nghe tiếng gào, lục tục kéo sang. Người thì đi gọi thầy lang, người thì chạy đi tìm anh cả Nguyễn Văn Phúc ở vựa lúa đầu làng. Nhưng ai cũng hiểu, khi người ta đã nằm im như thế, thầy lang đến cũng chỉ để xác nhận một điều mà mọi con mắt đều đã thấy.
Ông lang Tư đến, bắt mạch, nghe tim, vạch mắt, rồi lắc đầu, khẽ khép hai mi mắt còn trợn ngược của ông Lộc lại. Ông nói nhỏ với bà Nhàn:
- Cụ nhà đi đột ngột quá. Có lẽ trúng phải gió độc lúc chạng vạng, ngã đập đầu vào thành giếng. Bà liệu mà lo hậu sự cho chu đáo.
Bà Nhàn gật đầu trong nước mắt, nhưng Thành không tin là trúng gió. Anh đã nhìn thấy những vết bầm trên cổ cha. Dấu tay ấy không phải do ngã đập. Nó giống như có ai đó, hay một bàn tay vô hình nào, đã bóp chặt cổ ông trong lúc ông giãy giụa bên miệng giếng.
Trong lúc mọi người xúm quanh thi thể, lo trải chiếu, lo đi báo tin, Thành lặng lẽ cúi xuống miệng giếng, ghé mắt nhìn vào.
Nước giếng không trong như mọi ngày. Mặt nước sủi bọt đục ngầu, những bong bóng li ti nổi lên vỡ ra, tỏa một mùi tanh nồng nặc xộc thẳng lên mũi. Thành chưa bao giờ thấy giếng nhà mình như thế. Giếng khơi này nuôi cả nhà bao năm, nước lúc nào cũng mát lạnh trong veo, mùa hạn hán cả làng đến xin nước cũng không cạn. Ông nội anh vẫn dặn: giếng là mắt của nhà, giữ giếng sạch là giữ phúc.
- Nước giếng sao thế này? - anh lẩm bẩm.
Không ai trả lời. Mọi người đang bận đỡ bà Nhàn vào nhà, bận đặt thi thể ông Lộc ngay ngắn trong gian giữa, bận bàn chuyện báo cho họ hàng. Thành đứng bên miệng giếng một lúc lâu, nhìn bọt nước sủi lên từng đợt, như có vật gì dưới đáy đang thở, đang sục lên từng hơi nặng nhọc.
Anh cả Phúc đạp xe về đến nơi khi trời đã tối hẳn. Nghe tin dữ, Phúc buông xe ngã lăn ra sân, bò vào ôm lấy thi thể cha mà khóc nức nở. Lê Thị Hảo, vợ Phúc, dắt thằng Đức đứng nép ở cửa, mặt tái mét. Thằng bé mười tuổi chưa hiểu hết sự đời, chỉ biết ông nội nằm im không động đậy, nó níu áo mẹ hỏi nhỏ:
- Mẹ ơi, ông nội ngủ sao không vào giường?
Không ai trả lời nó. Hảo ôm con vào lòng, nước mắt lặng lẽ chảy.
Đêm ấy, nhà họ Nguyễn thức trắng. Thầy Ba Đồ, thầy cúng già nhất làng Vân Khê, được mời đến xem giờ nhập quan. Ông cụ bảy mươi tuổi, râu tóc bạc phơ, cả đời xem giờ lành giờ dữ cho nửa cái làng. Ông ngồi xếp bằng bên thi thể, bấm đốt ngón tay tính toán hồi lâu, miệng lẩm nhẩm những câu mà chỉ mình ông hiểu.
Khi ngẩng lên, mặt thầy Ba tái đi một cách kỳ lạ. Ông nhìn bà Nhàn, rồi nhìn Thành, rồi lại cúi xuống cuốn sổ tay, bấm thêm một lần nữa, như không tin vào những gì mình vừa tính ra.
- Giờ mất của cụ Lộc... - thầy Ba ngập ngừng, giọng khàn đi.
- Sao hả thầy? - bà Nhàn hỏi, giọng run run. - Có phạm phải giờ xấu không thầy?
Thầy Ba Đồ nhìn quanh gian nhà đầy người, rồi lắc đầu, cố nặn ra một nụ cười gượng gạo:
- Không sao. Giờ tốt, giờ tốt. Bà cứ lo liệu đi. Mai tôi sang sớm phụ việc khâm liệm.
Nhưng Thành đứng nép sau cánh cửa buồng, đã nhìn thấy rõ: tay thầy Ba run lên bần bật khi gấp cuốn sổ tay lại. Một thầy cúng đã xem giờ cho bao nhiêu đám ma trong làng, chưa bao giờ anh thấy ông run như thế. Và khi thầy Ba ra về, ông còn ngoái lại nhìn miệng giếng sau nhà rất lâu, rồi vội vã bước đi như chạy, không dám nán lại thêm một phút nào.
Đến gần nửa đêm, khi mọi người đã mệt lả ngồi gục quanh bàn thờ tạm, Thành ra sân sau hít thở. Trăng non mờ nhạt sau đám mây dày. Gió bấc thổi hun hút qua vườn cau. Anh đến bên thi thể cha lần cuối trước giờ khâm liệm, quỳ xuống, nắm lấy bàn tay lạnh ngắt của ông.
Bàn tay phải của ông Lộc nắm chặt. Thành khẽ gỡ từng ngón tay đã cứng đờ ra. Trong lòng bàn tay cha, một nhúm đất đen sì, ướt nhẹp, bốc mùi tanh nồng của bùn đáy sông. Đất dính chặt vào da thịt, bết vào từng kẽ ngón tay, như thể ông đã bấu víu lấy nó trong cơn giãy giụa cuối cùng, quyết không buông dù chết.
Thành sững người. Đất đen? Bùn đáy sông? Bên miệng giếng nhà anh chỉ có đất thịt nâu, làm gì có bùn đen tanh tưởi như thế này. Cha anh đã bấu được nhúm bùn này ở đâu?
Anh nhìn nhúm đất đen trong tay cha, rồi nhìn ra miệng giếng tối om sau nhà, nơi bọt nước vẫn đang sủi lên từng đợt trong bóng đêm, mùi tanh theo gió bay tới mỗi lúc một nồng. Sống lưng anh lạnh toát, như có ai đó vừa thổi một hơi lạnh vào gáy.
Anh nhớ hồi còn bé, cha vẫn cõng anh ra giếng mỗi buổi chiều, múc từng gầu nước trong veo dội lên đầu anh, cười ha hả bảo nước giếng nhà mình ngọt nhất làng. Bây giờ giếng vẫn đó, nhưng nước đã đục, cha đã nằm im, và trong lòng bàn tay cha là nhúm bùn đen không thuộc về mảnh đất này.
Anh đứng lặng hồi lâu, nghe tiếng bọt nước sủi dưới giếng hòa lẫn tiếng khóc thút thít trong nhà. Đêm nay dài như không bao giờ hết. Và trong thâm tâm, Thành biết chắc một điều: cha anh không phải trúng gió mà chết.
Từ vườn cau tối đen, một tiếng cười khanh khách rất khẽ vang lên, the thé như tiếng chim cú kêu đêm, rồi tắt ngấm trong gió bấc.