Vô Đầu Quỷ Ở Ải Chi Lăng - Chương 50: Ba Tiếng Còi
Ngày 3 tháng 5 năm 2025, ba tuần sau đêm rằm tháng Ba, tuyến đường tránh Ải Chi Lăng thông xe theo nhánh vòng mới. Buổi sáng ngày thông xe không có băng…
Nội dung chương
Ngày 3 tháng 5 năm 2025, ba tuần sau đêm rằm tháng Ba, tuyến đường tránh Ải Chi Lăng thông xe theo nhánh vòng mới.
Buổi sáng ngày thông xe không có băng khánh thành đỏ rực như những buổi thông xe mà Thắng từng dự ở các công trình khác. Ban quản lý dự án và nhà thầu Thiên Sơn thống nhất làm một buổi lễ nhỏ và gọn ngay tại đầu tuyến mới, với sự có mặt của chính quyền địa phương, đoàn khảo cổ, đại diện bản Nà Bó và đội thi công đã ở lại đến ngày cuối cùng. Con đường mới trải nhựa phẳng lì, vòng một đường cong rộng và êm qua phía dưới chân Gò Cấm, tránh xa khu mộ tử sĩ trên gò cao một khoảng cách đủ để người đi đường nhìn thấy khu mộ như một đài tưởng niệm ven đường, nhưng không một bánh xe nào còn đi qua chỗ nằm của bốn mươi bảy người lính năm xưa nữa. Hai bên đường mới, cỏ non vừa lên xanh sau những cơn mưa đầu mùa, và ở khúc cong gần khu mộ nhất, nhà thầu đã cho trồng một hàng cây bóng mát theo đề nghị của ông Cừ, để mùa hè người đi đường có chỗ dừng chân và người nằm trên gò cũng có bóng cây che nắng như mọi khu mộ tử tế khác ở vùng này.
Khu mộ tử sĩ giờ đây đã chính thức thành đài tưởng niệm. Cổng khu mộ được dựng bằng đá của vùng Chi Lăng, giản dị và chắc chắn. Bên trong cổng, bốn mươi bảy nấm mộ đã được xây bờ thấp bằng đá quanh từng mộ, thẻ số gỗ tạm thời đã được thay bằng những tấm bia đá nhỏ khắc số và một dòng chữ chung: tử sĩ Lam Sơn vô danh, 1427. Tấm bia đá chính ở giữa khu mộ vẫn giữ nguyên hai dòng chữ từ ngày quy tập, được bổ sung thêm một dòng ghi ngày khánh thành đài tưởng niệm. Một nhà bia nhỏ lợp ngói được dựng ở góc khu mộ, trong đó đặt cuốn sổ quy tập bản sao và bộ hồ sơ tóm tắt của Hà, để bất kỳ ai ghé thăm cũng có thể đọc được câu chuyện của bốn mươi bảy con người vô danh này mà không cần phải hỏi người bản địa. Thắng đi một vòng quanh khu mộ trong buổi sáng thông xe, tay chạm nhẹ lên từng tấm bia nhỏ quen thuộc, và thấy lòng mình yên ổn một cách trọn vẹn mà anh chưa từng có ở bất kỳ công trình nào anh từng bàn giao trong đời.
Tùng có mặt trong buổi sáng hôm đó, đi lại bằng chính đôi chân của mình.
Chân phải của cậu đã tháo bột từ tuần trước, còn đi hơi khập khiễng khi bước nhanh, nhưng cậu đi được, đứng được và nhất quyết không dùng nạng trong ngày thông xe. Cậu mặc áo công nhân mới, đứng trong hàng ngũ đội thi công khi làm lễ, và sau buổi lễ thì cùng Thắng, Hà và vợ chồng ông Cừ đi lên khu mộ để thắp nhang như một lệ mà cả nhóm đã hẹn với nhau từ đêm rằm: mỗi dịp quan trọng của con đường mới này, họ sẽ quay lại thắp nhang cho đoàn tử sĩ, không để khu mộ trở thành một đài tưởng niệm lạnh lẽo chỉ có người ghé thăm vào ngày lễ chính thức.
Trên khu mộ, ông Cừ thắp nhang trước, khấn một bài ngắn và nhẹ nhàng hơn mọi bài khấn trong những ngày quy tập căng thẳng trước đây, như khấn cho người thân trong nhà vào một ngày giỗ bình thường. Bà Sâm không đến được trong buổi sáng vì sức khỏe người già sau nhiều ngày lễ lạt, nhưng bà gửi lên một bó hoa trắng hái trong vườn nhà và một lời nhắn qua ông Cừ: bà nói từ nay bà ngủ ngon cả đêm, không còn nghe tiếng vó ngựa trong mơ như mấy chục năm qua nữa. Hà thắp nhang và đặt xuống trước tấm bia chính một bản sao cuối cùng của bộ hồ sơ quy tập đã được đóng dấu lưu trữ của bảo tàng tỉnh, nói rằng bản gốc sẽ nằm trong kho lưu trữ quốc gia, còn câu chuyện thì sẽ nằm lại ở đây, với đất này và với những người đi đường qua đây mỗi ngày. Minh thắp nhang sau cùng trong nhóm, đứng lâu trước hàng mộ đầu tiên, rồi quay sang Thắng và nói một câu mà Thắng biết là lời kết thật sự của người đàn ông này với vùng đất Chi Lăng.
- Công trình này là công trình duy nhất trong đời tôi mà phần việc quan trọng nhất lại không nằm trên bản vẽ tiến độ. - Minh nói. - Tôi sẽ nhớ nó lâu hơn mọi con đường thẳng mà tôi từng làm.
Thắng thắp nén nhang của mình xuống mộ của vị tướng, ở đúng vị trí anh đã cắm nén nhang cuối cùng trong đêm rằm ba tuần trước. Lớp đất ở đó giờ đã phủ một lớp cỏ non mỏng, xanh và mềm. Anh đứng yên một lúc, nhớ lại toàn bộ hành trình từ ngày 3 tháng 3 đến hôm nay: mảnh gươm rỉ trong gầu xúc của Tùng, nén nhang đầu tiên của ông Cừ ở lán trại, đêm giáp mặt đoàn quân trong sương ở Gò Cấm, cái chết của Hậu ở bờ suối, những ngày đào tay trong lòng Khe Cạn, đêm nín thở trong hốc đá dưới thác cạn, bảy mũi chỉ đỏ trên cổ vị tướng, đêm mưa lũ cuốn đi một chiếc tiểu, và đêm rằm sáng trăng khi tiếng vó ngựa im bặt mãi mãi. Hai tháng tròn. Một quãng đời ngắn ngủi của người sống, đặt cạnh sáu trăm năm chờ đợi của người chết, bỗng trở nên nhỏ bé và quý giá cùng một lúc trong suy nghĩ của anh.
Đến giữa buổi sáng, chiếc xe đầu tiên chính thức chạy qua tuyến đường mới trong tiếng vỗ tay gọn gàng của những người dự lễ ở hai bên đường. Đó là một chiếc xe tải nhỏ chở hàng nông sản của một hợp tác xã trong huyện, thùng xe chất đầy những sọt rau xanh vừa thu hoạch buổi sớm. Khi xe chạy đến khúc cong ngang qua khu mộ tử sĩ trên gò cao, tài xế cho xe chạy chậm lại rõ rệt, gần như chỉ còn lăn bánh từ từ qua đoạn đường ấy, rồi bấm còi ba tiếng chào, ngắn và rõ, vang khắp thung lũng trong buổi sáng trong trẻo. Ba tiếng còi ấy không nằm trong kịch bản của buổi lễ. Chúng là một lời chào tự nhiên của một người đi đường dành cho những người đang nằm yên bên đường, như người ta vẫn chào nhau khi đi qua một nơi đáng kính ở vùng đất đầy lịch sử này.
Trong lúc chờ giờ thông xe chính thức, Thắng đi một mình đến cuối dãy mộ, nơi có nấm mộ của người lính trẻ nhất đoàn ở hàng thứ ba, và ngồi xuống bên cạnh đó trên một phiến đá phẳng. Từ vị trí này, anh nhìn thấy toàn bộ thung lũng trải dài trước mặt, con đường mới uốn cong mềm mại ở phía dưới, bản Nà Bó với những mái nhà nhỏ và khói bếp buổi sáng ở phía xa, và dòng Khe Cạn lấp lánh nước mùa mưa ở sau núi như một dải bạc mỏng. Anh ngồi đó rất lâu, không nghĩ ngợi gì cụ thể, chỉ để cho sự yên bình của buổi sáng này thấm dần vào người mình sau hai tháng sống trong căng thẳng, sợ hãi, mất mát và những đêm không ngủ. Có một lúc, một cơn gió nhẹ đi qua khu mộ làm những nén nhang trên các mộ cùng nghiêng khói về một hướng, và Thắng bỗng mỉm cười một mình, vì anh biết cơn gió này chỉ là gió thường của núi rừng vào buổi trưa, không mang theo tiếng vó ngựa, không mang theo câu hỏi nào, không mang theo điều gì ngoài mùi cỏ non và mùi đất ẩm sau mưa của một thung lũng đã trở lại làm một thung lũng bình thường như bao thung lũng khác trên đất nước này.
Khi anh đứng dậy quay lại phía cổng khu mộ, Tùng đang chờ anh ở đó, tay cầm hai chai nước, đưa cho anh một chai. Hai người cùng đứng ở cổng khu mộ nhìn xuống tuyến đường mới đang chờ giờ thông xe ở phía dưới, Tùng tựa nhẹ vào cột cổng đá vì chân còn khập khiễng khi đứng lâu. Tùng nói trong lúc chờ, giọng cậu nhẹ nhõm như một người vừa đi qua một kỳ thi dài của đời mình.
- Anh Thắng, sau này em có con, em sẽ kể cho nó nghe chuyện ở đất này. Không phải để dọa nó sợ ma đâu. Để nó biết có những người chết từ rất lâu rồi mà vẫn phải có người sống lo cho họ đến nơi đến chốn, thì người ta mới được yên. Và để nó biết anh em mình đã làm được việc đó, đủ bốn mươi bảy người, không thiếu một ai.
Thắng gật đầu, uống một ngụm nước, và đáp một câu ngắn gọn mà anh biết là đủ cho cả hai người trong buổi sáng hôm nay.
- Ừ. Đủ bốn mươi bảy người. Không thiếu một ai. Việc đó mình kể lại được cả đời, Tùng ạ.
Thắng đứng trên khu mộ, nhìn chiếc xe tải nhỏ đi qua khúc cong và khuất dần về phía cửa Ải trong nắng sớm. Thung lũng Chi Lăng đứng yên trong buổi sáng ngày 3 tháng 5, nắng vàng trên các sườn núi, gió nhẹ qua hàng cây mới trồng ven đường, khói nhang trên dãy mộ bay lên mỏng và thẳng. Không còn một vệt sương lạ nào tụ lại ở đáy thung lũng vào ban ngày. Không còn một âm thanh kim loại nào ẩn dưới tiếng gió qua cửa Ải. Chỉ còn một con đường mới vòng qua một khu mộ tử sĩ đã thành đài tưởng niệm, và những con người còn sống đang bắt đầu học cách đi qua vùng đất này mỗi ngày bằng sự tôn trọng mà họ đã phải trả một cái giá không nhỏ mới học được trong hai tháng vừa qua, hai tháng không ai trong số họ sẽ quên được trong suốt phần đời còn lại của mình.