Vô Đầu Quỷ Ở Ải Chi Lăng - Chương 47: Khu Mộ Bên Gò Cấm

Ngày 11 tháng 4, toàn bộ bốn mươi bảy tử sĩ được quy tập về khu mộ mới bên Gò Cấm. Khu mộ đã được chuẩn bị từ nhiều ngày trước ở một vị trí được chọn rất…

Nội dung chương

Ngày 11 tháng 4, toàn bộ bốn mươi bảy tử sĩ được quy tập về khu mộ mới bên Gò Cấm.

Khu mộ đã được chuẩn bị từ nhiều ngày trước ở một vị trí được chọn rất kỹ: một gò đất cao và khô ở phía bên kia của Gò Cấm, không nằm trên tim tuyến đường, không nằm trên đường nước cũ của Khe Cạn, nhìn xuống thung lũng Chi Lăng và hướng mặt về phía cửa Ải xưa. Hà đã khảo sát nền đất ở đây bằng phương pháp thăm dò khảo cổ, xác nhận phía dưới không còn hài cốt chưa phát hiện và nền đất ổn định qua mùa mưa. Ông Cừ và bà Sâm đã làm lễ xin phép ở khu đất này từ hôm trước, theo đúng lệ bản như lần làm lễ ở chân gò ngày đầu khai quật. Thắng đứng ở mép khu mộ từ sáng sớm, nhìn bốn mươi bảy hố mộ nhỏ đã được đào sẵn theo đúng sơ đồ đội hình: hàng đầu một hố lớn hơn một chút dành cho vị tướng, các hàng sau là bốn mươi sáu hố của những người lính, mỗi hố đều có cọc gỗ ghi số và một tấm bia đá nhỏ chưa khắc chữ đặt sẵn bên cạnh.

Công việc buổi sáng bắt đầu bằng việc kiểm tra lần cuối cùng toàn bộ bốn mươi bảy tiểu sành. Hà, bà Sâm và Tùng cùng nhau đối chiếu sổ sách với thực tế một lần nữa, tiểu nào cũng được đọc số thành tiếng, kiểm tra dải vải đỏ niêm phong, kiểm tra thẻ số. Bốn tiểu từng bị nứt vỡ trong đêm mưa và tiểu của người lính trẻ nhất đoàn được kiểm tra kỹ gấp đôi. Khi con số bốn mươi bảy trên bốn mươi bảy lần thứ hai được Tùng đọc lên và Hà ký xác nhận vào sổ quy tập, Thắng mới ra hiệu bắt đầu chuyển tiểu từ khu chứa lên khu mộ.

Đoàn chuyển tiểu đi thành một hàng dài trong buổi sáng nắng đẹp đầu tiên sau nhiều ngày mây mù. Mỗi tiểu được hai người khiêng bằng cáng mềm, đi chậm trên con đường đất vừa được san lại từ khu quy tập lên khu mộ. Thắng tự tay khiêng tiểu của vị tướng cùng Bảo ở vị trí đầu đoàn. Phía sau họ là bốn mươi sáu chiếc cáng nối tiếp nhau, mỗi chiếc cách nhau một khoảng đều đặn như một đội hình hành quân. Người bản Nà Bó đứng dọc hai bên đường, các cụ già chắp tay cúi đầu khi đoàn đi qua, các chị phụ nữ rắc những cánh hoa trắng hái trong vườn nhà lên mặt đường đất phía trước đoàn, trẻ con được người lớn giữ tay đứng yên lặng nhìn theo, không một tiếng đùa giỡn nào như mọi ngày. Thắng đi ở đầu đoàn, mồ hôi chảy xuống lưng áo, tay giữ cáng chắc và đều, và anh bỗng nhận ra đoàn người khiêng tiểu sáng nay đang đi đúng trên một phần của lối hành quân cũ qua Ải, con đường mà đoàn quân cụt đầu đã đi qua trong sương suốt gần sáu trăm năm để tìm đầu của mình. Hôm nay, lần đầu tiên, họ được đi trên con đường ấy vào ban ngày, trong nắng, bằng đôi chân và đôi tay của người sống, để về nằm yên ở cuối con đường.

Việc hạ tiểu vào hố mộ diễn ra suốt buổi trưa và đầu buổi chiều. Mỗi tiểu được hạ xuống bằng dây thừng, chậm và đều, có bà Sâm đứng bên miệng hố đọc số và khấn ngắn cho từng người. Đất được lấp lại bằng tay và bằng xẻng nhỏ, không dùng máy, lớp đất đầu tiên được rắc nhẹ bằng tay của người khiêng như một lệ của bản. Khi tiểu cuối cùng, tiểu của người lính trẻ nhất đoàn ở hàng thứ ba, được hạ xuống và lấp đất xong, cả khu mộ chìm trong một sự im lặng dài. Bốn mươi bảy nấm mộ nhỏ mới đắp xếp thành đội hình ngay ngắn trên gò đất cao, mỗi nấm mộ đều cắm một thẻ số gỗ tạm thời chờ thay bằng bia đá khắc chữ.

Tấm bia đá chính của khu mộ được dựng vào giữa buổi chiều. Đó là một tấm đá nguyên khối lấy từ núi đá của vùng Chi Lăng, mặt đá được mài phẳng, dòng chữ khắc trên bia do Hà soạn thảo và được cả ban quản lý dự án cùng chính quyền địa phương thống nhất từ trước: Tử sĩ Lam Sơn, trận Chi Lăng năm 1427, vô danh, quy tập ngày 11 tháng 4 năm 2025. Bên dưới dòng chữ chính là một dòng chữ nhỏ hơn: Bốn mươi bảy người, đủ đầu, đủ thân, an nghỉ tại đây. Thắng đứng trước tấm bia vừa dựng, đọc hai dòng chữ ấy nhiều lần, và thấy chúng giản dị mà đầy đủ hơn bất kỳ văn bản nghiệm thu nào anh từng ký trong đời kỹ sư của mình.

Minh là người đại diện nhà thầu ký vào văn bản cam kết cuối cùng của ngày hôm đó, ngay tại khu mộ, trước sự chứng kiến của Hà, ông Cừ và đại diện địa phương. Văn bản ghi rõ: tuyến đường tránh Ải Chi Lăng sẽ được điều chỉnh vĩnh viễn theo nhánh vòng qua phía dưới khu mộ, không xâm phạm vào ranh giới khu mộ tử sĩ trong bất kỳ giai đoạn thi công và vận hành nào về sau. Phần đất của khu mộ và lối hành quân cũ qua Gò Cấm được giữ nguyên trạng làm khu tưởng niệm. Minh ký tên, đóng dấu của nhà thầu, rồi quay sang ông Cừ và cúi đầu một cách trịnh trọng mà Thắng biết là hoàn toàn thành thật.

- Phần thiệt về tiến độ và chi phí phát sinh do đổi tuyến, nhà thầu chúng tôi xin chịu. - Minh nói. - Coi như đó là cái giá phải trả để từ nay về sau, xe đi qua vùng này không phải đi qua chỗ nằm của người ta nữa.

Ông Cừ đặt tay lên vai Minh, không nói lời tha thứ nào to tát, chỉ gật đầu như người lớn trong bản gật đầu với một người vừa làm xong một việc đúng đắn sau nhiều lần làm sai.

Chiều xuống dần trên khu mộ mới. Đội thi công và người bản lần lượt xuống núi, chỉ còn lại nhóm chủ chốt ở lại kiểm tra lần cuối hệ thống đèn nhỏ và hàng cọc mốc quanh khu mộ. Thắng đứng ở vị trí cao nhất của gò, nhìn xuống thung lũng Chi Lăng đang dần chuyển sang màu tím nhạt của hoàng hôn, nhìn con đường đất mới san của nhánh vòng tránh đang hình thành ở phía dưới chân gò, tránh xa khu mộ một khoảng rộng và tôn trọng. Anh nghĩ đến ngày mai, đêm rằm tháng Ba, đêm cuối cùng của lệ, khi nén nhang cuối cùng sẽ được cắm xuống mộ phần của vị tướng và mọi chuyện ở vùng đất này mới thật sự khép lại.

Trước khi xuống núi, Thắng ghé qua dãy mộ một lần nữa cùng Hà để kiểm tra việc ghi chép hồ sơ khu mộ. Mỗi nấm mộ đều được Hà chụp ảnh, định vị trên sơ đồ khu mộ bằng tọa độ tương đối so với tấm bia chính và cây gạo già ở đầu gò. Tùng, dù chân còn đau sau cả ngày chống nạng đi theo đoàn, vẫn ngồi bên bàn dã chiến ở chân khu mộ và hoàn tất cuốn sổ quy tập thứ hai, cuốn sổ của khu mộ, ghi rõ vị trí từng người trong khu mộ mới đối chiếu với vị trí của họ trong hố chôn cũ và trong dãy tiểu sành. Ba cuốn hồ sơ của bốn mươi bảy con người vô danh, từ hố chôn đến lòng suối đến khu mộ, giờ đây đã khép lại thành một bộ hoàn chỉnh mà bất kỳ ai sau này muốn tìm lại một người trong đoàn cũng có thể tìm được đúng nấm mộ của người ấy mà không phải đào xới đất này thêm một lần nào nữa. Hà đóng cuốn sổ cuối cùng lại và nói với Thắng rằng phần việc của khảo cổ đến đây là hết, phần việc còn lại của đêm mai thuộc về lệ bản và thuộc về chính anh, người sẽ cắm nén nhang cuối cùng xuống mộ phần của vị tướng theo đúng lời ông Cừ đã dặn từ những ngày đầu tiên gặp nhau ở cổng công trường.

Thắng nghe xong, đi ra mép gò đứng một mình một lúc. Anh nhớ lại nén nhang đầu tiên ông Cừ đặt xuống bàn ở lán trại vào ngày 4 tháng 3, khi anh còn cho rằng ông già chỉ đang dọa đội thi công bằng chuyện mê tín để giữ đất của bản. Nén nhang ấy và lời nói đi kèm của ông, đất này có người nằm, không có đường nào đi qua được đâu, đã đi theo anh suốt hơn một tháng qua như một lời tiên tri mà anh phải trả giá bằng mồ hôi, bằng thương tích của đồng đội và bằng cả một mạng người trẻ tuổi mới chịu tin là thật. Ngày mai, chính tay anh sẽ cắm nén nhang cuối cùng để khép lại câu chuyện mà nén nhang đầu tiên ấy đã mở ra, và anh bỗng thấy vòng tròn của những ngày qua vừa khép lại một cách trọn vẹn vừa nặng nề trong lòng ngực mình.

Đúng lúc đó, anh ngẩng đầu lên và nhìn thấy sương.

Sương đang tụ lại trên thung lũng, sớm hơn mọi ngày anh từng chứng kiến ở vùng Ải này. Mặt trời chưa tắt hẳn, nắng chiều còn vàng trên các đỉnh núi phía tây, vậy mà ở đáy thung lũng và dọc theo lối qua Ải xưa, một lớp sương trắng đã bắt đầu hình thành, dày lên từng chút một ngay trước mắt anh, như một dòng sông trắng đang từ từ dâng lên để chuẩn bị cho đêm cuối cùng của nó trên vùng đất Chi Lăng này. Đêm ấy, cả đội và cả bản Nà Bó sẽ thức trắng bên khu mộ để chờ nghe tiếng vó ngựa cuối cùng đi qua thung lũng trong sương, trước khi nén nhang cuối cùng được cắm xuống vào đúng đêm rằm tháng Ba theo lệ bản đã truyền lại qua nhiều đời người giữ đất này.

Chương khác

Xem thêm