Vô Đầu Quỷ Ở Ải Chi Lăng - Chương 44: Chỉ Đỏ
Ngày 8 tháng 4, lễ khâu đầu bắt đầu trước khi mặt trời lên khỏi dãy núi phía đông Ải Chi Lăng. Khu quy tập bên Gò Cấm sáng đèn dầu từ lúc bốn giờ sáng.…
Nội dung chương
Ngày 8 tháng 4, lễ khâu đầu bắt đầu trước khi mặt trời lên khỏi dãy núi phía đông Ải Chi Lăng.
Khu quy tập bên Gò Cấm sáng đèn dầu từ lúc bốn giờ sáng. Bốn mươi bảy thân thể tử sĩ đã được đưa từ khu khai quật lên khu quy tập từ hôm trước, đặt ngay ngắn trên những tấm ván dài phủ vải trắng, xếp đúng đội hình hành quân năm xưa: hàng đầu là vị tướng, các hàng sau là bốn mươi sáu người lính của ông, mỗi thân thể đều có thẻ số của Hà gắn ở phía chân và một khay riêng đựng hộp sọ đã đối chiếu của chính người đó. Thắng đi dọc đội hình một lượt trong ánh đèn dầu, nhìn từng bộ xương đã được lau sạch đất cát, nhìn những bộ giáp rỉ còn sót lại trên ngực một số người, nhìn những bàn tay xương vẫn giữ nguyên tư thế nắm chặt như đang cầm một cán gươm không còn nữa. Gần sáu trăm năm nằm dưới đất, họ vẫn giữ được đội hình của mình. Điều đó làm anh xúc động một cách lặng lẽ mà anh không muốn ai nhìn thấy trong buổi sớm trang trọng này.
Bà Sâm và ông Cừ đến cùng lúc với những người cao tuổi nhất của bản Nà Bó. Bà Sâm mặc áo dài vải chàm sẫm, tóc búi gọn, tay cầm một chiếc hộp gỗ nhỏ mà Thắng chưa từng thấy bà mang theo bao giờ. Trong hộp là những cuộn chỉ đỏ đã được xe sẵn, mấy cây kim khâu lớn bằng xương và một chiếc kéo nhỏ đã cũ. Bà đặt hộp gỗ lên bàn lễ, mở nắp, rồi quay sang cả đội đang đứng thành vòng quanh khu quy tập và nói rõ lệ của ngày hôm nay.
- Khâu đầu không phải là buộc đầu vào cổ cho xong. - Bà nói. - Khâu là nối lại. Kim đi qua phần xương và phần vải liệm ở cổ, chỉ đỏ đi theo kim, bảy mũi cho một người, không thừa không thiếu. Vừa khâu vừa gọi số của người đó theo hồ sơ, để người ta biết đầu đang về với thân của chính mình. Khâu xong một người, người giữ lệ kiểm tra, cô Hà kiểm tra hồ sơ, rồi mới khâm liệm người đó vào tiểu sành và chuyển sang người tiếp theo. Làm từ hàng cuối lên hàng đầu. Vị tướng khâu sau cùng, vì người đứng đầu phải thấy anh em của mình đã đủ cả rồi mới yên lòng nằm xuống.
Người khâu đầu tiên là một tử sĩ ở hàng cuối của đội hình. Bà Sâm tự tay làm mẫu, động tác chậm và chắc, kim đi qua từng mũi đều đặn, chỉ đỏ nổi bật trên nền vải trắng và xương ngà cũ như một đường máu vừa được nối lại. Thắng đứng ngay bên cạnh bà, nhìn không chớp mắt, ghi nhớ từng động tác của đôi tay già nua mà vững vàng ấy. Sau người đầu tiên, công việc được chia cho những người đã được bà Sâm hướng dẫn từ hôm trước: Bảo khâu ở một dãy, mấy thanh niên bản khâu ở dãy khác, Hà luôn đi giữa các dãy với hồ sơ trên tay, đọc số và kiểm tra từng cặp đầu và thân trước khi kim đầu tiên chạm vào. Tùng ngồi bên bàn, ghi lại từng người đã khâu xong, giờ khâu, người khâu, như ghi biên bản của một công trình mà mỗi hạng mục là một con người.
Thắng khâu người đầu tiên của mình vào giữa buổi sáng. Đó là tử sĩ số mười một, một người lính có vết chém rất sâu ở phía sau cổ. Tay anh, vốn quen cầm bút vẽ bản đồ và ra hiệu cho máy xúc, ban đầu lóng ngóng với cây kim khâu bằng xương một cách đáng ngạc nhiên. Mũi đầu tiên đi lệch. Bà Sâm đứng bên cạnh không mắng, chỉ đặt tay lên tay anh, giữ lại, và nói một câu rất khẽ.
- Cậu đang sợ làm đau người ta. Người chết không đau nữa đâu. Cậu chỉ cần sợ làm sai. Tay thả lỏng ra, mắt nhìn vào chỗ kim sắp tới, đừng nhìn vào tay mình.
Thắng hít một hơi chậm, làm lại. Từ mũi thứ hai trở đi, tay anh ổn định dần. Bảy mũi chỉ đỏ hiện lên đều đặn quanh cổ người lính số mười một, nối hộp sọ của anh ta vào thân thể của chính mình lần đầu tiên sau gần sáu trăm năm xa cách. Khi mũi cuối cùng được thắt nút, Thắng bỗng thấy mắt mình cay xè. Anh không khóc thành tiếng. Anh chỉ cúi đầu xuống rất thấp trước người lính vô danh ấy, lâu hơn mức cần thiết của một động tác kiểm tra, rồi mới đứng dậy và gọi khẽ số mười một cho Hà ghi vào hồ sơ.
Cứ như thế, lễ khâu đầu diễn ra suốt cả ngày trong sự trang trọng và bền bỉ. Không có tiếng nhạc, không có lời hô hào. Chỉ có tiếng đọc số khẽ khàng, tiếng kim chạm vào khay gỗ, tiếng vải liệm xột xoạt, tiếng bút chì của Tùng ghi trên giấy và thỉnh thoảng là tiếng khấn ngắn của bà Sâm mỗi khi một hàng trong đội hình được khâu xong. Người bản đứng vòng ngoài, các bà các chị thay nhau dâng nước và giữ cho đèn dầu trên bàn lễ không bao giờ tắt. Minh phụ trách vòng ngoài cùng, đón thêm vải, thêm nhang, thêm nước, và lặng lẽ thay ca cho bất kỳ ai trong đội khâu cần nghỉ tay ít phút để duỗi những ngón tay đã tê cứng vì cầm kim nhiều giờ liền.
Đến cuối buổi chiều, bốn mươi sáu người lính đã được khâu đầu xong và khâm liệm vào tiểu sành của mình. Chỉ còn lại một người ở đầu đội hình, nằm riêng trên tấm ván phủ vải trắng đẹp nhất, bên cạnh là chiếc khăn liệm cũ của dòng họ ông Cừ mà bà Sâm đã trải sẵn từ sáng. Vị tướng.
Thắng rửa tay thật kỹ, thay chiếc áo đã lấm mồ hôi và bụi vải, rồi quỳ xuống bên ván của vị tướng. Hà đặt khay đựng hộp sọ của ông xuống cạnh anh, mở hồ sơ đối chiếu của người cuối cùng ra và đọc rõ một lần cuối cho cả khu quy tập cùng nghe: vị tướng vô danh, tử sĩ Lam Sơn, trận Chi Lăng năm 1427, thân ở đầu đội hình, giáp ngực khắc hình chim ưng, hộp sọ tìm thấy trong hốc đá dưới thác cạn, có mảnh giáp chim ưng đi kèm, vết chém khớp đốt sống cổ. Bà Sâm đặt cuộn chỉ đỏ vào tay Thắng.
Anh khâu bảy mũi cho vị tướng bằng một sự tập trung mà cả đời làm kỹ thuật anh chưa từng có. Mỗi mũi kim đi qua, anh đều nhớ lại một hình ảnh: hốc đá lạnh trong đêm sương, tiếng vó ngựa dừng lại ngay trên đầu, vết chém sâu trên trán trong ánh sáng sớm, hình chim ưng xòe cánh trên mảnh giáp rỉ. Mũi thứ bảy thắt nút xong, hộp sọ của vị tướng đã nối liền vào thân thể của ông, ngay ngắn và trang trọng trên chiếc khăn liệm cũ của dòng họ giữ lệ. Cả khu quy tập im lặng hoàn toàn trong khoảnh khắc đó. Ông Cừ cúi đầu. Bà Sâm chắp tay khấn một bài dài hơn mọi bài khấn trong ngày, giọng bà run lên ở những chữ cuối cùng.
Sau khi vị tướng được khâu đầu xong, đội làm nốt phần khâm liệm cho ông ngay trong buổi chiều. Hộp sọ và thân thể đã nối liền của ông được đặt vào chiếc tiểu sành lớn nhất trong dãy, lót bên dưới là chiếc khăn liệm cũ của dòng họ ông Cừ như bà Sâm đã hứa từ ngày mang khăn lên công trường. Thắng tự tay đặt mảnh giáp chim ưng vào trong tiểu, bên cạnh ngực của vị tướng, để người chỉ huy của đoàn được nằm cùng với dấu hiệu của chính mình. Nắp tiểu của ông được niêm phong bằng dải vải đỏ thắt theo nút lệ riêng, khác với mọi tiểu khác trong dãy, và Tùng ghi vào sổ một dòng chữ được gạch chân hai lần: người thứ bốn mươi bảy, vị tướng, đã khâu đầu và khâm liệm xong, ngày 8 tháng 4, người khâu Hoàng Đức Thắng, người chứng kiến Vi Thị Sâm và Nguyễn Thị Thu Hà. Bốn mươi bảy tiểu sành giờ đây đã đủ mặt trong khu quy tập, bốn hàng ngay ngắn, bốn mươi bảy dải vải đỏ niêm phong, bốn mươi bảy con người đã nguyên vẹn trở lại sau gần sáu trăm năm chia lìa. Thắng đi dọc bốn hàng tiểu một lượt cuối ngày, tay chạm nhẹ lên từng nắp sành lạnh, và lần đầu tiên kể từ ngày khởi công, anh cảm thấy công việc ở vùng đất này có thể thật sự đi đến một kết thúc tốt đẹp, một kết thúc mà người sống làm tròn phần việc của mình với người chết và người chết chịu nằm yên trả lại sự bình yên cho thung lũng.
Rồi, đúng lúc mọi người còn đang đứng yên trong niềm xúc động vì người thứ bốn mươi bảy vừa được khâu xong, mây đen kéo đến từ phía sau dãy núi nhanh đến mức ánh sáng trên Gò Cấm tối sầm lại chỉ trong vài phút. Một cơn gió lớn bất ngờ quét qua khu quy tập, giật tung mép mái che, và làm tắt toàn bộ nhang trên bàn lễ trong cùng một lượt, khói nhang đang bay thẳng bỗng tản ra hỗn loạn rồi biến mất. Mấy chiếc đèn dầu chao đảo dữ dội, hai chiếc tắt hẳn. Bà Sâm ngẩng đầu lên nhìn trời, sắc mặt thay đổi hẳn.
Ông Cừ bước ra khỏi mái che, ngửa mặt nhìn lớp mây đen đang cuộn xuống thấp trên thung lũng, và nói một câu khiến niềm vui của cả đội chững lại ngay lập tức.
- Mưa đến sớm hơn dự báo rồi. Đêm nay mà mưa lớn thì nước suối sau núi sẽ dâng rất nhanh, khu chứa tiểu sành tạm của chúng ta lại nằm ngay trên đường nước cũ chảy qua chân Gò Cấm này, con đường mà mùa khô thì khô rang nhưng mùa mưa thì nước đi qua trước tiên.