Đông Bắc Ngũ Tiên Dị Sự Lục - Chương 1: Dưới Đáy Sông Tùng Hoa
Màn hình chiếc laptop ThinkPad cũ mèm chớp nháy hai lần rồi đứng sững. Con trỏ chuột hình mũi tên biến thành vòng tròn xoay tít mù, đè nghẹn dòng tiêu đề…
Nội dung chương
Màn hình chiếc laptop ThinkPad cũ mèm chớp nháy hai lần rồi đứng sững. Con trỏ chuột hình mũi tên biến thành vòng tròn xoay tít mù, đè nghẹn dòng tiêu đề dang dở: "Bảo Gia Tiên (Bảo Gia Tiên) là gì? - Wikipedia".
Tôi vỗ bôm bốp vào cái vỏ nhựa sứt góc. Quạt tản nhiệt rít lên như máy cưa gỗ mục, phun ra luồng hơi khét lẹt mùi nhựa cháy. Hệ điều hành lậu, driver đồ họa cập nhật từ thời Bắc Dương quân phiệt, bắt nó chạy ba tab trình duyệt cùng tài liệu tiểu luận văn hóa dân gian Đông Bắc đúng là một trò tra tấn vô nhân đạo.
Đồng hồ góc màn hình nhảy sang 1 giờ 17 phút sáng. Ngày 15 tháng 11.
Nhiệt độ ngoài trời lúc này là âm hai mươi lăm độ C. Cáp Nhĩ Tân vào giữa tháng mười một chẳng khác nào một cái tủ đông khổng lồ mở toang nắp. Ống sưởi bằng gang trong phòng 314, tầng bốn ký túc xá số 7 rỉ ra tiếng nước chảy róc rách yếu ớt, chỉ đủ làm ấm một khoảng không gian chưa đầy nửa mét xung quanh. Tôi thở ra một ngụm khí trắng đục, hai bàn chân xỏ trong đôi tất len xù lông vẫn buốt cóng.
"Cộc! Cộc! Cộc!"
Tiếng đập cửa vang lên gấp gáp, khô khốc. Bản lề gỗ cũ kỹ rung lên bần bật.
Tôi nhíu mày, đứng dậy kéo chốt cửa. Gió luồn qua khe hành lang thổi tạt vào phòng mang theo mùi ẩm mốc đặc trưng của khu nhà xây từ thập niên tám mươi.
Đứng ngoài cửa là bà cụ Lưu.
Bà sống ở tầng trệt khu nhà tập thể cũ nát sát chân tường rào trường đại học, ngày thường hay nhặt ve chai và bán hạt dẻ nướng ở cổng phụ. Lúc này, bà cụ chỉ khoác một chiếc áo chần bông mỏng dính rách mép, chân đi đôi dép lê nhựa cọ xát trên nền xi măng. Mặt bà trắng bệch, nước mắt nước mũi hòa lẫn chảy ròng ròng xuống cằm, chưa kịp rơi xuống đất đã đông lại thành những hạt băng nhỏ li ti bám trên khóe môi.
Bà run rẩy túm lấy cánh tay tôi, năm ngón tay gầy guộc bấm sâu qua lớp áo:
Cố Trạch Ngôn, cậu giúp tôi với. Tiểu Đậu rơi xuống sông rồi.
Tôi giật thót. Não bộ đang trì trệ vì thiếu ngủ lập tức bị một gáo nước lạnh tạt thẳng vào mặt.
Tiểu Đậu là đứa cháu ngoại sáu tuổi của bà Lưu, mồ côi cha mẹ từ bé, tính tình nghịch ngợm có tiếng quanh khu phố cổ. Đêm hôm thế này, mặt sông Tùng Hoa vừa mới bước vào thời kỳ đóng băng ban đầu, lớp băng trên mặt nước giòn tan và xốp xộp, người lớn đi lên còn sụp lún chứ đừng nói là một đứa trẻ con hiếu động.
Tôi không kịp nghĩ ngợi nhiều, với lấy chiếc áo khoác bông dày cộp vứt trên thành giường trùm vội lên người, chân xỏ vội vào đôi bốt da lót lông cừu đã mòn vẹt đế rồi lao ra ngoài.
Bà đứng ở đây gọi người! Tôi chạy ra trước!
Tôi ném lại một câu rồi tông cửa cầu thang chạy thục mạng xuống tầng.
Từ ký túc xá số 7 ra đến mép sông Tùng Hoa mất chừng năm phút chạy bộ. Gió bấc rít từng cơn xé rách màn đêm, quất thẳng vào mặt rát buốt như bị dao lam cứa. Lớp tuyết dày ba mươi phân ngập quá mắt cá chân, mỗi bước đạp xuống đều phát ra tiếng lạo xạo nặng nề. Hơi thở phả ra từ miệng tôi đọng thành lớp sương trắng xóa che khuất tầm nhìn.
Khu vực bờ sông về đêm vắng lặng đến rợn ngườị. Đèn đường màu vàng đục chỉ rọi được một khoảng mờ ảo trên nền tuyết trắng toát.
Bà Lưu vậy mà đã lảo đảo chạy theo sau từ lúc nào, vừa chạy vừa ngã dúi dụi, miệng gào khóc thảm thiết.
Tôi lao xuống triền đê dốc đứng trơn trượt. Dưới ánh sáng le lói của bóng đèn cao áp xa xa, mặt sông Tùng Hoa hiện ra đen ngòm, lởm chởm những mảng băng vỡ trôi lềnh bềnh.
Trên mép bờ tuyết, một thanh sắt rỉ sét dài chừng nửa mét nằm chỏng trơ. Mùi rỉ sắt nồng nặc bốc lên trong không khí lạnh buốt, tanh nồng như mùi máu tươi. Lớp băng gần bờ chi chít những vết cào xước nham nhở, chứng tỏ thằng bé đã dùng que sắt này rạch nát mặt băng để nghịch trước khi trượt chân.
Cứu... cứu cháu...
Tiếng khóc yếu ớt như mèo hen cất lên từ giữa dòng nước đen ngòm.
Cách bờ khoảng bảy mét, một bóng đen nhỏ xíu đang bám chặt lấy một tảng băng nổi. Thằng bé Tiểu Đậu chỉ còn nhô được cái đầu và đôi tay tím tái lên khỏi mặt nước. Mép băng xung quanh vỡ vụn thành từng mảnh sắc nhọn, trên gờ băng trắng lóa còn đọng lại vài vệt máu nhỏ đỏ tươi rỉ ra từ những vết cắt sâu hoắm trên ngón tay thằng bé.
Nước sông Tùng Hoa mùa đông chảy xiết ngầm bên dưới, đang từng chút một kéo ghì cơ thể nhỏ bé ấy xuống đáy sâu.
Bà Lưu quỳ sụp trên bờ tuyết, hai tay cào xới điên cuồng xuống đất, trán đập mạnh vào nền đá phủ băng:
Cứu nó với! Trạch Ngôn ơi, tôi lạy cậu, cứu lấy thằng bé!
Tôi chửi thề một tiếng trong cổ họng. Chờ đội cứu hộ tới nơi thì thằng bé đã thành một khúc gỗ trôi ra tận hạ lưu Hắc Long Giang.
Tôi cởi phăng chiếc áo khoác bông bên ngoài. Lớp vải bọc ngoài rách toạc một đường dài do va vào góc cọc tiêu trên bờ đê, để lộ ra lớp lót bông dày cộp bên trong trắng xóa. Tôi ném mạnh nó lên nền tuyết, chỉ mặc độc chiếc áo len cao cổ mỏng, rồi lao thẳng xuống mép sông.
Băng ở rìa bờ vỡ toang dưới sức nặng của tôi. Tiếng rắc rắc giòn tan vang lên ghê rợn.
Cơn buốt lạnh ập đến trong một cái chớp mắt, tước đoạt toàn bộ dưỡng khí trong phổi tôi. Nước sông âm hai mươi lăm độ không giống như nước, nó giống như hàng ngàn mũi kim thép nung đỏ rồi cắm sâu vào da thịt, xuyên qua lỗ chân lông, đâm thẳng vào tủy xương.
Tôi dùng hai cùi chỏ liên tục đập mạnh vào những mảng băng nổi cản đường, mở một lối đi ngắn trong làn nước buốt giá. Da thịt ở cánh tay rách toạc vì cạnh băng sắc lẹm, nhưng dây thần kinh tê liệt hoàn toàn khiến tôi không còn cảm nhận được đau đớn.
Tôi bơi chồm lên, vươn tay chộp lấy cổ áo khoác của Tiểu Đậu.
Thằng bé nặng trĩu vì ngấm đẫm nước sông đóng băng. Môi nó tím ngắt, mắt trợn ngược, toàn thân co giật từng cơn.
Bám vào tao!
Tôi gầm lên một tiếng, dùng hết sức bình sinh đạp nước, đẩy ngược cơ thể thằng bé về phía gờ băng vững chắc gần bờ. Nước sông tràn vào miệng tôi, đắng chát và lạnh ngắt. Bằng một cú hất tay dứt khoát, tôi đẩy cả người Tiểu Đậu văng lên bờ tuyết.
Bà Lưu nhào tới như một con thú hoang, ôm chặt lấy đứa cháu vào lòng, gào khóc nức nở.
Tôi bám hai tay vào mép băng định trồi lên.
Nhưng đúng lúc này, hai bắp chân tôi đột ngột co rút dữ dội. Các bó cơ đông cứng lại như hai khúc gỗ bị vặn xoắn cực độ, đau buốt thấu tận óc. Mọi lực cử động biến mất hoàn toàn.
Lực hút từ dòng nước xiết dưới đáy sông chộp lấy mắt cá chân tôi, kéo mạnh xuống.
Mười đầu ngón tay tôi cào mạnh lên mép băng trơn trượt, để lại những vệt móng tay rách toạc rỉ máu, nhưng không tài nào giữ lại được. Cơ thể tôi chìm nghỉm xuống làn nước đen ngòm.
Mặt sông khép lại trên đỉnh đầu. Tiếng gió rít, tiếng gào khóc của bà Lưu biến mất, chỉ còn lại âm thanh ùng ục của bọt khí và tiếng tim đập yếu ớt bên tai.
Bóng tối bao trùm lấy tôi.
Cơ thể trôi dạt vô định giữa tầng nước ngầm lạnh lẽo của dòng Tùng Hoa. Ý nghĩ cuối cùng xẹt qua trong đầu tôi trước khi ý thức tắt lịm không phải là sự sợ hãi, cũng chẳng phải tiếc nuối cho một kiếp người ngắn ngủi hai mươi hai năm.
Nó là một sự bực bội trần trụi: Hóa đơn tiền trọ tháng này dưới chân cầu vượt, tôi vẫn chưa kịp đóng cho lão chủ nhà.
***
Tôi mở mắt.
Không có cảm giác ngạt thở. Không có áp lực ngàn cân của dòng nước đen.
Tôi đang đứng trên bờ đê phủ tuyết trắng, ngay tại vị trí tôi vừa cởi áo khoác nhảy xuống vài phút trước.
Tôi cúi đầu nhìn xuống bàn tay mình. Chiếc áo len cao cổ phẳng phiu, lớp quần áo khô ráo hoàn toàn, không có lấy một giọt nước sông bám lại. Cơn đau buốt xé da xé thịt khi nãy biến mất không dấu vết, ngay cả hai bắp chân bị chuột rút cũng không hề có cảm giác mỏi mệt.
Gió mùa đông bắc vẫn gầm rú qua những rặng liễu trơ trụi ven bờ, cuốn tung những xoáy tuyết mù mịt.
Cách tôi ba bước chân, bà Lưu vẫn đang quỳ sụp trên nền tuyết.
Bà Lưu? Thằng bé sao rồi?
Tôi bước tới một bước, cất tiếng hỏi.
Không có tiếng trả lời.
Không gian xung quanh tĩnh lặng một cách bất thường, chỉ có tiếng gió rít qua những khe đá.
Tôi bước vòng qua phía trước mặt bà cụ.
Bà Lưu vẫn giữ nguyên tư thế ôm chặt đứa cháu vào lòng, nhưng hai người họ không hề nhúc nhích. Toàn thân bà đã đông cứng lại thành một khối tượng băng xám xịt. Đôi mắt bà mở trừng trừng nhìn vô định về phía mặt sông đen ngòm, con ngươi đục ngầu không một tia sáng. Hàng lông mày và những sợi tóc bạc xơ xác phủ đầy một lớp băng tuyết trắng xóa dày đặc, tựa hồ như đã quỳ ở đây qua hàng chục mùa đông tuyết phủ.
Trong lòng bà, thằng bé Tiểu Đậu cũng bất động, làn da phủ một lớp sương muối trắng nhờ.
Một cảm giác dị thường ập đến bóp nghẹt lồng ngực tôi.
Tôi lùi lại một bước, hơi thở không hề phả ra khói trắng giữa cái lạnh âm hai mươi lăm độ.
Tôi ngẩng đầu lên, phóng tầm mắt qua bên kia bờ sông Tùng Hoa rộng hàng trăm mét.
Dưới ánh sáng mờ ảo của màn đêm vùng biên ải, trên những bậc đá phủ đầy băng tuyết ở bờ sông đối diện, có một bóng người đang ngồi tĩnh lặng.
Đó là một ông lão mặc chiếc áo bào dài màu xám tro kiểu cũ, hai tay lồng vào trong ống tay áo, khuôn mặt ẩn khuất sau vành mũ nỉ. Ông ta ngồi thẳng tắp giữa trời bão tuyết, đôi mắt sắc lạnh xuyên qua mặt sông đóng băng thăm thẳm, nhìn chằm chằm vào tôi.