Đông Bắc Ngũ Tiên Dị Sự Lục - Chương 15: Ngôi Làng Bỏ Hoang Chết Chóc
Gió bấc thổi qua bình nguyên tuyết trắng xóa của vùng Đại Hưng An Lĩnh, rít từng hồi chói tai qua những rặng thông già cỗi. Chiếc xe lôi tự chế của gã…
Nội dung chương
Gió bấc thổi qua bình nguyên tuyết trắng xóa của vùng Đại Hưng An Lĩnh, rít từng hồi chói tai qua những rặng thông già cỗi. Chiếc xe lôi tự chế của gã thợ săn trả tôi ở ngã ba đường đá dăm rồi quay đầu chạy thốc tháo, bỏ lại tôi một mình giữa cái lạnh âm hai mươi lăm độ của buổi chiều tà. Hơi thở phả ra từ miệng tôi đông cứng thành từng vệt khói trắng đục, bám vào lông cổ áo khoác da cừu thành một lớp sương muối xốp giòn.
Trước mặt tôi là lối vào làng Vạn.
Tấm biển gỗ cắm ở đầu làng đã mục gãy một nửa, chỉ còn sót lại chữ "Vạn" trơ trọi bị tuyết phủ lấp quá nửa thân cọc. Ngôi làng từng là nơi tụ cư của hơn trăm hộ lâm nghiệp và khai hoang, nay chỉ còn lại một bãi phế tích xám xịt nằm lọt thỏm giữa thung lũng tuyết. Những mái nhà tranh sụp đổ vì sức nặng của băng giá, vách đất trơ khung gỗ que củi, cửa sổ vỡ toác há hốc như những hốc mắt người chết. Cả vùng đất chìm trong sự hoang phế nặng nề, thỉnh thoảng chỉ nghe thấy tiếng vài con chó hoang gầy trơ xương đứng trên đống rơm mục sủa khan từng hồi đứt quãng rồi lủi nhanh vào các bụi gai đen đúa.
Theo lời người trong vùng, làng Vạn bây giờ chỉ còn sót lại chừng năm sáu nóc nhà có khói bốc lên. Đều là những người già sống lay lắt chờ ngày xuống lỗ, không nơi nương tựa, cũng chẳng còn con cháu đoái hoài.
Tôi lần theo con đường mòn phủ đầy tuyết xốp đi sâu vào trong làng. Tiếng đế giày da giẫm lên lớp băng nổ lách tách khô khốc giữa không gian tĩnh mịch đến rợn người. Mùi của làng Vạn không phải mùi gỗ thông thơm nồng đặc trưng vùng núi non, mà là một mùi nồng nặc hôi hám của xú uế lâu năm quyện với đất ẩm thối rữa, xộc thẳng vào cánh mũi bất chấp cái lạnh buốt giá làm tê liệt các giác quan.
Tôi dừng lại trước một căn nhà gỗ cũ kỹ nằm tách biệt ở mé đồi phía tây của làng.
Căn nhà được dựng bằng những thân cây bạch dương ghép sơ sài, đất sét trộn rơm trát bên ngoài đã bong tróc từng mảng lớn lộ ra những thớ gỗ xám xịt bị mọt đục rỗng. Trên khung cửa ra vào, ba chùm đuôi chuột khô quắt, thâm đen được buộc túm lại bằng chỉ đỏ đã bạc màu, đung đưa theo từng cơn gió thổi qua khe nứt. Trên bậc thềm gỗ phủ đầy những hạt phân chuột đen bóng, cứng như đá dăm vì đông lạnh, xen lẫn những vết cào móng li ti chi chít khắp ngưỡng cửa.
Tôi giơ tay gõ lên tấm ván cửa mục:
Có ai ở nhà không?
Bên trong không có tiếng trả lời, chỉ có tiếng xột xoạt của rơm khô và tiếng củi nổ lách tách trong lò sưởi. Tôi đẩy nhẹ cánh cửa, then cài bên trong vốn đã hỏng từ lâu, cánh cửa gỗ phát ra một tiếng "cọt kẹt" kéo dài nhức óc rồi mở toang.
Luồng hơi nóng kèm theo mùi khai nồng nặc từ bên trong ùa ra tạt thẳng vào mặt tôi.
Giữa gian phòng mờ tối, bên cạnh chiếc lò sưởi đắp bằng gạch sống, một bà lão gầy gò ngồi co ro trên chiếc phản gỗ trải chiếu rách. Bà ta mặc một chiếc áo bông xanh đã sờn rách lòi cả ruột bông đen đúa, mái tóc bạc phơ rối bù xù che khuất nửa khuôn mặt đầy nếp nhăn sâu hoắm. Da mặt bà ta xám ngoét, khô héo bọc lấy xương gò má nhô cao, hai hốc mắt sâu hoắm gần như chỉ còn một màu đục ngầu của chứng đục thủy tinh thể tuổi già.
Đó là Vạn Bà, người phụ nữ duy nhất còn mang họ Vạn bám trụ lại mảnh đất này sau thảm họa của gia tộc ba mươi năm trước.
Trên bức tường đất đối diện phản nằm, một bức ảnh chụp gia đình treo lệch lạc trên chiếc đinh rỉ. Mặt kính khung ảnh đã ố mốc loang lổ những vệt nước vàng khè, bên trong là bức hình đen trắng chụp gần ba mươi con người họ Vạn tề tựu đông đủ, ở giữa là một người đàn ông trung niên phương phi, râu quai nón rậm rạp, ánh mắt sắc lẹm kiêu hùng. Người đó chính là Vạn Đại Niên, tộc trưởng đời trước của họ Vạn.
Tôi bước vào trong, khép hờ cánh cửa lại để ngăn gió tuyết:
Bà là Vạn Bà? Tôi là Cố Trạch Ngôn, người nhận ủy thác từ đứa cháu họ của bà ở nội địa.
Bà lão từ từ ngẩng đầu lên. Bàn tay khẳng khiu đầy những vết sẹo răng chuột cắn cấu nắm chặt lấy mép chiếu mục, giọng nói khàn đặc phát ra từ cuống họng khô khốc:
Cháu họ? Lũ trốn chui trốn lủi đó còn nhớ tới đất này sao? Chúng nó bảo cậu đến đây nhặt xác tao à?
Tôi không trả lời ngay. Tôi tập trung tinh thần, khẽ chớp mắt ba lần, kích hoạt con mắt đạo môn mà sư phụ đã khai mở từ năm tôi mười sáu tuổi.
Khung cảnh trước mắt lập tức biến đổi.
Dưới lớp ván sàn gỗ ọp ẹp, trong những kẽ nứt của vách đất trát rơm, và sâu dưới lớp đất đen bên dưới ngôi nhà, một cảnh tượng kinh hoàng hiện ra. Hàng nghìn, hàng vạn cái bóng chuột xám ngoét to bằng bắp chân người lớn đang chen chúc, lúc nhúc bò tràn ngập khắp nơi. Chúng cắn xé lẫn nhau, cào móng vào thớ gỗ, mắt con nào con nấy đỏ rực như than hồng cháy dở. Những luồng oán khí đen ngòm bốc lên nghi ngút từ lũ chuột, cuộn xoắn lấy nhau thành những sợi dây vô hình, quấn chặt lấy tứ chi và lục phủ ngũ tạng của bà lão ngồi trên phản.
Cả căn nhà này thực chất là một cái tổ chuột khổng lồ dựng trên một biển oán hận ngút trời.
Bà lão thấy tôi nhìn chằm chằm xuống sàn nhà thì bật ra một tràng cười the thé, khô khốc như tiếng cọ xát của cành cây gãy:
Cậu nhìn thấy rồi đúng không? Đừng sợ, chúng nó không cắn người ngoài đâu. Tao sống chung với lũ chuột này ba mươi năm rồi, nghe tiếng chân chúng nó chạy dưới gầm giường mỗi đêm, quen tai rồi. Ngày nào không nghe tiếng răng chúng nó gặm gỗ, tao lại không ngủ được.
Tôi nhìn thẳng vào khuôn mặt xám ngắt của bà ta, giọng trầm xuống:
Bà không sợ chúng, nhưng mạng của bà đã cạn rồi. Hỏa khí trong người bà chỉ còn như ngọn đèn dầu trước gió bão, chậm nhất là ba ngày nữa, khi đợt tuyết tan đầu tiên rơi xuống, bà sẽ tắt thở.
Tiếng cười của Vạn Bà đột ngột ngưng bặt. Ánh mắt đục ngầu của bà ta giần giật.
Tôi nói tiếp từng lời dứt khoát:
Bà chết đi thì hết nợ trần gian, nhưng oán khí của Hôi Tiên gia tộc không tan biến theo cái chết của bà. Mối huyết cừu ba mươi năm trước khi ông Vạn Đại Niên đào phá mả tiên của Hôi gia, giết sạch cả hang ổ chuột để lấy đất xây lò gạch vẫn còn nguyên đó. Bà là người họ Vạn cuối cùng trấn giữ mảnh đất này để hứng chịu nghiệp báo. Khi bà nhắm mắt xuôi tay, đàn chuột này sẽ theo đường dây huyết mạch tìm đến con cháu họ Vạn đang phân tán ở Thẩm Dương, Trường Xuân, Thiên Tân. Từng đứa một, từ già đến trẻ, đều sẽ bị chuột cắn thủng cổ họng trong lúc ngủ say.
Căn phòng rơi vào im lặng chết chóc. Chỉ còn tiếng gió thốc vào khe cửa phát ra âm thanh như tiếng khóc rấm rứt của trẻ con, và tiếng lũ chuột vô hình dưới sàn cào móng sột soạt.
Vạn Bà run rẩy đưa bàn tay lên bấu chặt lấy ngực áo, thở dốc từng cơn nhọc nhằn. Bức ảnh gia đình cũ kỹ trên tường khẽ rung lên, một lớp bụi mốc rơi lả tả xuống nền đất.
Giải thế nào? - Bà ta gằn từng chữ qua kẽ răng - Năm đó Đại Niên bị chúng nó lôi xuống, cả nhà tan nát, tao sống dở chết dở ba mươi năm nay chưa đủ đền tội sao?
Muốn giải huyết oán, phải trị tận gốc. - Tôi bước lại gần chiếc bàn gỗ phủ đầy bụi than, rút từ trong túi áo ra một lá bùa màu vàng sẫm đặt lên mặt bàn - Phải tìm ra chính xác địa điểm năm xưa ông Vạn Đại Niên bị bầy chuột kéo xuống lòng đất. Đào bộ hài cốt của ông ấy lên, dùng nước tro bùa và rượu trắng rửa sạch từng khúc xương để gột rửa tử khí, sau đó lập đàn lập bài vị nhận tội, đưa toàn bộ con cháu họ Vạn về đây quỳ lạy dập đầu tạ tội trước bài vị Hôi gia tộc. Có như vậy, oán khí tích tụ ba mươi năm mới tiêu tán, con cháu họ Vạn mới mong có đường sống.
Vạn Bà ngồi bất động hồi lâu. Đôi mắt mờ đục của bà ta nhìn chăm chú vào lá bùa màu vàng trên bàn, rồi từ từ chuyển hướng nhìn ra khung cửa sổ nhỏ phía sau nhà, nơi lớp giấy dán đã rách nát hoàn toàn, để lộ ra khoảng sân sau hoang tàn ngập trong bão tuyết.
Bà lão chống tay lên chiếc gậy gỗ mun dựng bên cạnh phản, gượng gạo đứng dậy. Thân hình bà ta còng rạp xuống, từng khớp xương kêu răng rắc khi bước từng bước khập khiễng tiến về phía khung cửa sổ vỡ.
Bà ta giơ ngón tay khẳng khiu, đen đúa với móng tay gãy vụn chỉ thẳng ra ngoài vườn sau.
Giữa khoảng sân rộng mênh mông phủ một lớp tuyết trắng dày hơn nửa mét, nhiệt độ ngoài trời đang tụt xuống gần ba mươi độ âm, nhưng ở ngay chính giữa khoảng sân lại có một khoảng đất tròn rộng chừng hai mét vuông đen nhánh, bốc lên từng làn khói mỏng âm u. Tuyệt nhiên không có một bông tuyết nào có thể đọng lại trên mảng đất đen ngòm ấy, tuyết rơi đến đâu liền tan chảy biến thành làn nước sủi bọt ngấm thẳng xuống lòng đất đến đấy.
Vạn Bà ngoảnh mặt lại nhìn tôi, khóe miệng méo xệch co giật để lộ hàm răng đen sì rụng gần hết, giọng nói run rẩy hòa lẫn trong tiếng gió gầm rít:
Chôn ông ấy ở đó. Tao biết vì ngày đó tao nghe tiếng ông ấy kêu từ dưới đất.