Đông Bắc Ngũ Tiên Dị Sự Lục - Chương 14: Bí Mật Nhà Họ Vạn
Gió từ sông Tùng Hoa thổi thốc vào nội thành Cáp Nhĩ Tân, mang theo lớp bụi băng mỏng bám chặt lấy khung cửa kính hai lớp. Ngoài trời âm hai mươi lăm độ.…
Nội dung chương
Gió từ sông Tùng Hoa thổi thốc vào nội thành Cáp Nhĩ Tân, mang theo lớp bụi băng mỏng bám chặt lấy khung cửa kính hai lớp. Ngoài trời âm hai mươi lăm độ. Đầu xuân ở vùng Đông Bắc này chỉ là cái danh xưng trên tờ lịch; tuyết chưa tan, đất đá vẫn cứng như sắt nguội, nước bọt nhổ ra khỏi miệng chạm đất là đóng thành hòn băng đục.
Tôi nằm bẹp trên chiếc phản gỗ kê sát lò sưởi gang trong căn nhà thuê suốt hai ngày liền. Bắp chân và khớp gối ê ẩm sau chuyến đi trước, mùi than đá cháy dở quyện với hơi ẩm của lớp vôi tường mục nát tạo ra thứ không khí đặc quánh.
Tiếng đập cửa cùi cụi vang lên vào buổi trưa ngày thứ ba. Cửa mở, Cửu Thẩm Bình bước vào, mang theo một luồng gió buốt xộc thẳng vào phòng. Gã mặc chiếc áo bông bộ đội bạc màu, cổ quấn khăn len xơ xác, hai bên vành tai đỏ tấy vì cóng. Trên tay gã là một cái lồng bàn đan bằng cật nứa bọc kín trong lớp vải thô.
Ăn đi cho lại người. - Cửu Thẩm Bình đặt cái bọc lên bàn gỗ, mở lớp vải ra.
Bên trong là bốn cái bánh bao nhân thịt lợn bắp cải to bằng nắm tay người lớn, vỏ bột mì trắng đục còn bốc khói nghi ngút. Hơi mỡ lợn thơm ngậy nhanh chóng lấn át mùi than đá. Tôi ngồi dậy, cầm lấy một chiếc cắn dở. Nước mỡ nóng hổi ứa ra đầu lưỡi, kéo theo vị ngọt bùi của hành lá và tiêu đen. Mẩu bánh bao rơi vụn xuống mặt bàn gỗ xỉn màu.
Cửu Thẩm Bình không ngồi, gã đứng cạnh lò sưởi, hơ đôi bàn tay nứt nẻ trên nắp gang. Chưa đầy mười phút sau, tiếng bước chân lạo xạo dẫm trên nền tuyết ngoài ngõ lại vọng tới. Lần này là Hứa Niệm.
Hứa Niệm không mang theo đồ ăn. Gã đẩy cửa bước vào, phủi vội lớp tuyết bám trên mũ lông chồn rồi rút từ trong túi áo trong ra một phong thư cũ. Bìa thư bằng giấy xơ thô màu vàng nghệ, góc mép đã sờn rách, dán kín bằng một giọt sáp niêm phong đỏ lòm đã khô cứng.
Có việc gấp. - Hứa Niệm ném phong thư xuống mặt bàn, ngay cạnh mấy mẩu vụn bánh bao tôi vừa làm rơi. - Tin từ Làng Vạn, mạn sát biên giới Nội Mông, dưới chân rặng Đại Hưng An Lĩnh. Người gửi là một bà lão tám mươi tuổi, tên gọi Vạn Bà.
Tôi với tay lấy phong thư, dùng móng tay cạy lớp sáp niêm. Tờ giấy bên trong mỏng tang, gập làm tư, chi chít những dòng chữ run rẩy viết bằng mực tàu pha loãng. Nét bút nguệch ngoạc, xiêu vẹo hệt như chân cào của loài gặm nhấm trên nền bùn, nhiều chỗ nét mực bị nhòe bởi nước mắt hoặc mồ hôi tay đã khô từ lâu.
Trong thư chỉ vỏn vẹn mấy câu kể về việc gia đình bị Hôi Tiên hành hạ, kèm theo lời khẩn cầu người của giới thợ săn và phong thủy Đông Bắc đến thu dọn hậu sự.
Làng Vạn? - Tôi ngẩng đầu hỏi.
Ba mươi năm trước, họ Vạn ở đó là một gia tộc lớn, buôn ngũ cốc xuyên biên giới, đinh khẩu hơn ba mươi người. - Hứa Niệm kéo ghế ngồi xuống, châm một điếu thuốc lá lá, khói thuốc màu xám xanh cuộn tròn quanh chao đèn dầu. - Nhưng hiện tại cả cái họ ấy chỉ còn trơ trọi một mình Vạn Bà.
Người chết hết rồi? - Cửu Thẩm Bình quay đầu lại, mắt nheo lại.
Chết sạch. Người treo cổ xà nhà, kẻ ngã xuống giếng cạn, người thì đứt mạch máu não chết ngay trên bàn ăn. - Hứa Niệm gõ đầu ngón tay xuống bàn. - Gốc rễ chuyện này bắt đầu từ ba mươi năm trước. Chồng Vạn Bà tên là Vạn Đại Niên, một gã lái buôn ngô có tiếng tàn nhẫn. Năm đó kho chứa ngô của lão bị một đàn chuột lớn khoét vách tràn vào cắn phá. Vạn Đại Niên không dùng bẫy hay bả, lão cùng người làm đun sáu nồi nước sôi lớn, đổ thẳng vào toàn bộ các hang ngầm dưới nền kho. Hơn một trăm con chuột lớn nhỏ bị luộc chín dưới lòng đất, mùi thịt thối bốc lên ba tháng không tan.
Hứa Niệm nhả một ngụm khói, giọng chùng xuống:
Đêm thứ bảy sau ngày đổ nước sôi, kho thóc phát ra tiếng cào cấu đinh tai nhức óc. Đám người làm cầm đuốc xông vào thì thấy Vạn Đại Niên đang nằm quằn quại giữa sàn. Đàn chuột hàng ngàn con từ các kẽ nứt chui lên, gặm nát quần áo rồi kéo lão tụt sâu xuống cái hốc đất sụt dưới nền nhà trước sự chứng kiến của mọi người. Khi kéo được xác lên, nửa thân dưới của lão chỉ còn lại xương trắng dính máu. Từ năm đó, người nhà họ Vạn cứ cách một hai năm lại có kẻ chết bất đắc kỳ tử.
Tôi nhìn chằm chằm vào những dòng chữ run rẩy trên lá thư của Vạn Bà. Mực tàu đen xỉn bám vào thớ giấy ráp như những vết sẹo.
Thu dọn hành lý đi. - Tôi đứng dậy, phủi sạch mẩu bánh bao dính trên tay. - Chuột đã đòi nợ ba mươi năm, đến lúc phải kết thúc rồi.
Chúng tôi mất gần một ngày rưỡi di chuyển bằng xe khách liên tỉnh rồi đổi sang xe bò kéo để đến được Làng Vạn. Càng đi về phía tây bắc, địa hình càng hoang vu. Rừng thông đỏ và bạch dương của dãy Đại Hưng An Lĩnh sừng sững dưới bầu trời xám xịt như chì. Tuyết ở đây dày đến đầu gối, phủ kín những con đường mòn gập ghềnh.
Làng Vạn nằm lọt thỏm trong một thung lũng hẹp, đón trọn những đợt gió lạnh cuối cùng của mùa xuân thổi từ thảo nguyên Nội Mông sang. Cả ngôi làng chỉ có chừng hơn chục nóc nhà, vách đất trát rơm, mái lợp cỏ tranh mục nát trĩu nặng dưới lớp băng tuyết. Nhà của họ Vạn nằm biệt lập ở cuối làng, dựa lưng vào một sườn đồi thoai thoải.
Đó là một khu nhà ba gian bằng gỗ thông xám ngoét, tường bao quanh đã sụp đổ quá nửa. Cánh cổng gỗ ọp ẹp mở he hé, đung đưa kẽo kẹt theo từng cơn gió buốt. Tuyết trước sân không có dấu chân người, chỉ có những rãnh nhỏ li ti chằng chịt, dấu vết của vô số loài gặm nhấm chạy qua chạy lại trên mặt tuyết đông cứng.
Tôi đẩy cánh cửa chính bước vào. Bản lề rỉ sét rít lên một tiếng chói tai.
Không khí bên trong nhà tối tăm và lạnh lẽo không khác gì ngoài trời, chỉ khác là không có gió. Thay vào đó, một mùi thuốc bắc sắc đặc quánh nồng nặc xộc thẳng vào mũi. Mùi rễ cây hoàng kỳ, xuyên khung nấu cháy khét lẹt quyện chặt với mùi ẩm mốc của nệm rơm lâu năm và một thứ mùi hôi nồng, chua loét đặc trưng của nước tiểu chuột.
Ánh sáng lờ mờ từ khung cửa sổ dán giấy dầu rách nát chiếu rọi vào gian nhà trong. Giữa phòng kê một chiếc giường đất sưởi lớn bằng gạch mộc. Trên giường, dưới đống chăn bông vá víu bẩn thỉu, một bóng người gầy guộc đang nằm co quắp.
Ai đó? - Một giọng nói khàn đặc, the thé như tiếng móng tay cào vào mặt đá vang lên.
Chúng tôi nhận được thư. - Tôi bước lại gần mép giường đất, rút lá thư cũ đặt lên chiếc bàn con cạnh đó.
Bà lão cựa mình, chậm chạp chống tay ngồi dậy. Đó là Vạn Bà. Khuôn mặt bà cụ chỉ còn da bọc xương, xám xịt như tro bếp, chi chít những nếp nhăn sâu hoắm. Hai hốc mắt trũng sâu, con ngươi mờ đục vì chứng đục thủy tinh thể, nhưng cái nhìn vẫn sắc lẹm và đầy vẻ sợ hãi. Thân hình bà nhỏ thó dưới lớp áo bông dày cộp, hai bàn tay co quắp như móng vuốt chim muông.
Xung quanh mép giường đất, những thanh gỗ ốp chân tường đều bị gặm nham nhở. Vết răng chuột cắn thành từng vệt dài, để lộ ra lớp gỗ trắng bên trong. Dưới sàn đất nện, có ít nhất bốn cái hang tròn nhẵn thín to bằng miệng bát ăn cơm, đất xung quanh miệng hang đùn lên tươi mới, chứng tỏ chúng vẫn thường xuyên hoạt động.
Cửu Thẩm Bình và Hứa Niệm đứng sau lưng tôi, tay đều đặt sẵn vào bao dao găm giấu dưới vạt áo. Trong căn nhà tĩnh mịch, chỉ có tiếng thở khò khè đầy đờm của bà lão và tiếng củi cháy lép bép yếu ớt trong họng lò sưởi thông dưới giường đất.
Đến rồi à... - Vạn Bà đảo mắt nhìn ba người chúng tôi, giọng run bần bật. - Tao đợi người của phái xuất mã, phái thợ săn suốt mười năm nay. Chúng nó ăn hết rồi... Con trai tao, con dâu tao, cháu nội tao... Chúng nó gặm từ ngón chân gặm lên. Đêm nào chúng nó cũng ngồi quanh mép giường này, nhìn tao chằm chằm bằng những đôi mắt đỏ như than hồng.
Chúng tôi biết chuyện của Vạn Đại Niên ba mươi năm trước. - Hứa Niệm trầm giọng nói. - Mối thù nước sôi kho ngô năm đó, Hôi Tiên vẫn chưa tha cho bà?
Nghe đến tên chồng, cơ mặt Vạn Bà giật giật liên hồi. Bà cụ run rẩy thò bàn tay gầy trơ xương vào sâu trong lớp áo bông cáu bẩn ở trước ngực. Sau một hồi lục lọi, bà lôi ra một vật nhỏ xíu, nắm chặt trong lòng bàn tay khô héo rồi chìa ra trước mặt tôi.
Bàn tay mở ra.
Nằm gọn trong lòng bàn tay đầy đồi mồi của Vạn Bà là một chiếc đuôi chuột khô quắt, dài chừng một gang tay, da xám xịt bọc lấy những đốt xương cứng ngắc. Phần gốc của chiếc đuôi bị cắt đứt nham nhở, được quấn chặt bằng nhiều vòng chỉ đỏ đã ngả sang màu nâu đen vì bụi bẩn và dầu mỡ bám qua năm tháng.
Vạn Bà ngẩng khuôn mặt nhăn nheo lên nhìn thẳng vào mắt tôi, từng thớ thịt trên mặt giật bần bật, giọng the thé run rẩy:
Cái này tao giữ ba mươi năm. Tao là người khuyên chồng giết chuột bằng nước sôi. Tao là người có tội nhất.