Đông Bắc Ngũ Tiên Dị Sự Lục - Chương 11: Thư Máu Gửi Từ Rừng Sâu
Sau Tết đúng một tuần, tiết trời Cáp Nhĩ Tân bước vào giai đoạn khó chịu nhất trong năm. Ban ngày mặt trời chiếu rọi làm lớp tuyết mặt tan thành thứ nước…
Nội dung chương
Sau Tết đúng một tuần, tiết trời Cáp Nhĩ Tân bước vào giai đoạn khó chịu nhất trong năm. Ban ngày mặt trời chiếu rọi làm lớp tuyết mặt tan thành thứ nước bùn nhão nhoét xám xịt, nhưng hễ đồng hồ điểm sáu giờ tối, nhiệt độ lập tức tụt thẳng xuống âm hai mươi lăm độ C. Nước bẩn trên mặt đường đóng băng lại thành những mảng băng đen bóng loáng, trơn tuột, chỉ cần sơ sẩy trượt chân là đập gáy xuống nền xi măng.
Trong phòng ký túc xá của Đại học Cáp Nhĩ Tân, thanh lò sưởi bằng gang cũ kỹ kêu lên những tiếng lạch cạch khô khốc. Tôi ngồi bên bàn học, trước mặt là cuốn giáo trình Cơ học kết cấu dày cộp cùng tập đề cương ôn tập cho kỳ thi cuối kỳ bị hoãn lại từ trước Tết. Hơi thở tôi phả ra trong phòng vẫn đọng lại thành từng làn khói trắng mỏng manh. Cửa sổ kính hai lớp bị hơi ẩm phủ kín, tạo thành những hoa văn băng hình cành dương xỉ sắc nhọn.
Tiếng ủng da nện côm cốp trên hành lang phá tan không gian tĩnh mịch. Cửa phòng không khóa bị đẩy mạnh ra, kéo theo một luồng gió bấc mang mùi tuyết lạnh buốt xộc thẳng vào phòng.
Cửu Thẩm Bình bước vào. Ông mặc chiếc áo khoác bông bộ đội màu cỏ úa đã sờn rách ở cổ tay áo, trên vai còn đọng lớp tuyết vụn chưa kịp tan. Chiếc mũ lông cáo trùm kín tai kéo thấp xuống tận chân mày, râu ria quanh cằm lởm chởm những giọt sương giá đóng cứng. Ông không buồn tháo găng tay da, chỉ dùng mũi ủng đóng sầm cánh cửa gỗ lại rồi bước nhanh tới chiếc bàn học duy nhất trong phòng.
Trạch Ngôn, dẹp đống sách vở này sang một bên.
Giọng Cửu Thẩm Bình khàn đặc, lẫn trong tiếng thở dốc nặng nề. Tôi ngẩng đầu lên, chưa kịp hỏi thì ông đã thọc bàn tay thô ráp vào túi áo ngực bên trong, lôi ra một phong bì thư hình chữ nhật thô kệch.
Phong bì này làm bằng loại giấy bổi rẻ tiền, màu vàng ố loang lổ khắp các góc mép, đã bị ẩm nước rồi khô lại nhiều lần khiến mặt giấy nhăn nhúm cứng ngắc. Ngay khi phong bì được đặt xuống mặt bàn gỗ thông, một mùi mốc ẩm nồng nặc bốc lên, xen lẫn mùi hôi của mỡ động vật ôi thiu và mùi vỏ cây thông mục nát.
Tôi nhìn vào góc trên bên phải của phong thư. Dấu bưu cục tròn màu đỏ bã trầu đã phai nhạt gần hết, nhưng vẫn đọc được bốn chữ: Bưu cục Tháp Hà, Đại Hưng An Lĩnh. Ngày đóng dấu mờ căm, chỉ nhìn rõ số năm là từ hai tháng trước mùa đông năm ngoái.
Thư của ai gửi? - Tôi hỏi, tay lật nhẹ góc phong bì.
Mạc Trấn. - Cửu Thẩm Bình đáp ngắn gọn, tháo đôi găng tay da quẳng xuống giường tầng bên cạnh. Các đốt ngón tay của ông đỏ ửng vì cóng buốt.
Cái tên Mạc Trấn khiến tay tôi dừng lại trên mặt giấy. Vùng rừng già Đại Hưng An Lĩnh bạt ngàn không thiếu thợ săn, nhưng người được giang hồ bốn phương gọi bằng ba chữ "Bắt Rắn Khách" thì chỉ có duy nhất Mạc Trấn. Ba mươi năm trước, lão thợ săn này từng dùng một sợi dây thừng bện bằng gân bò và bột lưu huỳnh tóm sống một con mã xà dài sáu mét dưới vực sâu Hắc Long Giang. Sau vụ đó, Mạc Trấn lui về ẩn cư tại một thôn hẻo lánh dưới chân núi Tháp Hà, cắt đứt toàn bộ liên lạc với người ngoài giới.
Phía trước phong bì, dòng tên người nhận ghi rõ: "Chuyển giao cho con cháu Cố gia tại Cáp Nhĩ Tân". Chữ viết bằng bút bi mực xanh gai góc, nét chữ run rẩy, nguệch ngoạc và lệch hẳn sang mép dưới. Đây là nét bút của một bàn tay đã bị biến dạng khớp hoặc người viết đang trong cơn co giật kịch liệt.
Tôi cẩn thận dùng chiếc dao rọc giấy bằng thép rọc theo mép trên của phong bì. Tờ giấy viết thư bên trong là loại giấy kẻ ô của học sinh tiểu học, đã ngả sang màu xám tro. Tôi trải tờ giấy ra mặt bàn dưới ánh đèn bàn sợi đốt vàng vọt.
Mực xanh nhòe nhoẹt loang lổ ở nhiều chỗ, nhưng nội dung bên trong vẫn đọc được:
"Trạch Ngôn hiền điệt, Cố gia đại ân. Khi cháu đọc được bức thư này, có lẽ ta đã không còn giữ nổi cái mạng già trong rừng thông Làng Vạn. Bảy ngày trước tiết Lập Đông, tuyết rơi dày ba thước, nhưng đầm Lạc Ô dưới chân núi không đóng băng. Ta nhìn thấy vết trườn rộng hai thước xé toạc lớp vỏ rễ cây tùng bách. Không phải mã xà thông thường. Vảy của nó cào rách đá tảng, để lại bột bạc. Mùi tanh nồng bốc lên giữa trời giá rét âm bốn mươi độ. Liễn Tiên đã thức giấc, đang tìm đường nhập trạch. Người trong Làng Vạn bắt đầu lột da sống. Mau đến trước khi tuyết mùa xuân tan hết, mang theo hộp định hồn của ông nội cháu. Cứu ta, cứu lấy Làng Vạn."
Bức thư kết thúc bằng một vết mực kéo dài tuột xuống góc phải trang giấy, như thể lúc đặt bút viết chữ cuối cùng, cánh tay người viết đã bị một lực mạnh kéo giật đi.
Liễn Tiên thức dậy vào mùa đông tuyết dày? - Tôi nhìn Cửu Thẩm Bình. - Loài rắn luôn ngủ đông dưới lòng đất sâu. Trừ khi có uế khí xáo trộn long mạch, chúng tuyệt đối không bao giờ chui lên mặt đất vào thời điểm này.
Mạc Trấn là tay sành sỏi nhất về loài bò sát ở vùng Đông Bắc. - Cửu Thẩm Bình châm một điếu thuốc lá Mạt Hắc Long Giang, rít một hơi dài làm đốm lửa đỏ rực lên trong bóng tối lờ mờ của góc phòng. Khói thuốc đặc quánh mùi lá khô khét lẹt. - Lão già đó cả đời không tin thần không sợ quỷ. Nếu lão chịu hạ bút viết lá thư này cầu cứu Cố gia, nghĩa là Làng Vạn đã biến thành cái hố chôn người rồi.
Tiếng nắm đấm cửa xoay nhẹ. Hứa Niệm bước vào phòng, tay xách theo chiếc phích nước nóng bằng sắt tráng men hình hoa mẫu đơn. Cô mặc chiếc áo phao đen gọn gàng, chiếc khăn len quàng quanh cổ còn bám vài hạt tuyết nhỏ. Ánh mắt Hứa Niệm lập tức rơi vào tờ giấy ố vàng đang mở rộng trên bàn tôi.
Thư từ Đại Hưng An Lĩnh gửi về sao? - Hứa Niệm đặt phích nước xuống góc tường, tiến lại gần bàn học.
Tôi gật đầu, đưa lá thư cho cô xem. Hứa Niệm đọc rất nhanh. Đôi mày thanh tú của cô khẽ nhíu lại khi lướt qua đoạn "lột da sống". Cô ngón tay thon dài gõ nhẹ lên mặt bàn gỗ:
Kỳ thi của anh còn đúng sáu ngày nữa sẽ bắt đầu. Nếu bỏ thi môn Cơ học kết cấu và Toán cao cấp, anh sẽ bị giữ lại học tiếp một năm, mất luôn chỉ tiêu phân bổ công tác về Viện Thiết kế tỉnh.
Điểm số và công tác tính sau. - Tôi dứt khoát gấp tờ giấy viết thư lại. - Mạc lão từng cứu mạng ông nội tôi trong trận bão tuyết năm 1978 ở dãy Tiểu Hưng An Lĩnh. Cố gia nợ lão một mạng. Lời cầu cứu này gửi đến tay tôi, tôi không thể ngồi yên trong phòng ấm nhìn người ta chết rục trong rừng sâu.
Hứa Niệm không khuyên can thêm một lời. Cô hiểu rõ tính cách của tôi. Cô quay người mở ngăn tủ cá nhân ở góc phòng, lấy ra chiếc ba lô vải bạt màu xanh rêu dùng cho việc đi rừng, bắt đầu kiểm tra la bàn quân sự, hai hộp diêm chống nước, dao găm thép Mangan và túi thuốc bột bách thảo phòng thân.
Tôi đi cùng anh. - Giọng Hứa Niệm bình tĩnh, dứt khoát. - Tháp Hà hiểm trở, rừng nguyên sinh rậm rạp, một mình anh và Cửu thúc xử lý không xuể những chuyện quái đản này. Chuyến tàu hỏa mang số hiệu 6245 chạy tuyến Cáp Nhĩ Tân đi Mạc Hà sẽ khởi hành lúc mười một giờ đêm nay. Chúng ta còn bốn tiếng để chuẩn bị.
Cửu Thẩm Bình dụi tắt tẩu thuốc vào chiếc gạt tàn bằng sứ vỡ góc. Ông thở ra một luồng khói xám:
Trạch Ngôn, dọn sạch đồ đạc. Cầm theo cả xẻng công binh và la bàn phong thủy của ông nội cháu. Thứ Mạc Trấn đụng phải trong rừng tuyết không phải là dã thú thông thường đâu.
Tôi gật đầu, vươn tay cầm lấy chiếc phong bì rách nát để nhét tờ giấy viết thư trở lại vào trong. Khi ngón tay chạm vào đáy bao thư, tôi nhận thấy phần đáy dày cộm lên một cách bất thường, giống như người gửi đã dán kín một vật thể mỏng bên dưới lớp giấy bồi lót đáy.
Tôi dùng mũi dao thép rọc nhẹ một đường men theo đáy phong bì, rồi dốc ngược nó xuống lòng bàn tay.
Một vật nhỏ trượt từ đáy phong bì rơi ra.
Nó rơi thẳng xuống mặt bàn gỗ, phát ra một tiếng "cạch" khô khốc như kim loại va vào mặt kính.
Đó là một chiếc vảy rắn hình quạt, to bằng miệng chén uống trà. Chiếc vảy có màu bạc sáng loáng, bề mặt phủ những đường vân xoắn ốc tinh xảo, mép trên vảy còn dính chặt một mảng thịt vụn cùng lớp máu khô thâm đen, bốc lên mùi tanh tưởi nồng nặc đến nghẹt thở.
Cửu Thẩm Bình vừa nhìn thấy mảnh vảy bạc dính máu, khuôn mặt dạn dày sương gió của ông lập tức biến sắc. Đồng tử ông co rút kịch liệt. Không một giây chần chừ, ông vung tay gạt mạnh, hất văng chiếc vảy rắn bạc bay thẳng về góc tường đối diện.