Đông Bắc Ngũ Tiên Dị Sự Lục - Chương 8: Mẹ Trở Về Trong Gió Tuyết
Gió bấc cuối tháng hai quét qua những rặng liễu khẳng khiu ven bờ sông Tùng Hoa, mang theo bụi tuyết mỏng phả vào mặt buốt rát. Cáp Nhĩ Tân đang bước vào…
Nội dung chương
Gió bấc cuối tháng hai quét qua những rặng liễu khẳng khiu ven bờ sông Tùng Hoa, mang theo bụi tuyết mỏng phả vào mặt buốt rát. Cáp Nhĩ Tân đang bước vào những ngày đầu xuân, nhưng cái lạnh âm hai mươi lăm độ vẫn chưa chịu rút đi hoàn toàn. Tuyết đọng bên lề đường bắt đầu ngả sang màu xám đục, mặt đường rải muối chống trơn đóng thành từng mảng bùn nhão nhoét dưới đế giày.
Tôi đứng trước cổng ký túc xá Đại học Cáp Nhĩ Tân, hai tay thọc sâu vào túi áo phao dày cộm, nhìn bóng người nhỏ nhắn đang run rẩy dưới gốc cây phong khô khốc.
Đó là Cửu Thẩm Bình. Cô học cùng khoa với tôi, bình thường vốn là người ít nói, khuôn mặt tròn trịa lúc nào cũng có nét rụt rè. Nhưng chiều nay, Thẩm Bình mặc một chiếc áo khoác đen quá khổ, vành mắt đỏ hoe sưng húp, đầu đội chiếc mũ len xám kéo sụp xuống tận lông mày. Hơi thở từ miệng cô phả ra từng luồng trắng xóa, tan biến rất nhanh trong không khí đặc quánh giá rét.
Thấy tôi bước tới, Thẩm Bình ngẩng đầu lên, bờ môi nứt nẻ vì lạnh mấp máy mấy lần mới phát ra tiếng:
Cố Trạch Ngôn, tôi... tôi không biết tìm ai nữa.
Có chuyện gì? Mau vào phòng sưởi nói chuyện.
Tôi đưa tay chỉ về phía nhà ăn sinh viên, nhưng Thẩm Bình lắc đầu dứt khoát. Bàn tay đeo găng len rách ngón của cô vươn ra, bấu chặt lấy tay áo tôi. Lực ngón tay rất mạnh, run rẩy từng chặp.
Mẹ tôi mất ba ngày trước ở bệnh viện Đệ Nhất. Sáng nay hỏa táng xong, tôi đưa tro cốt về nhà. Nhưng... nhưng mẹ tôi vẫn ở đó. Bà ngồi trong phòng khách, nhìn tôi suốt từ trưa đến giờ.
Tôi nhìn thẳng vào mắt Thẩm Bình. Đáy mắt cô gái này không có tơ máu của sự điên loạn, chỉ có sự sợ hãi xen lẫn đau đớn đến cùng cực.
Mệnh tôi phạm Khuyết Tiền, từ nhỏ đã quen nhìn thấy những chuyện người bình thường không thấy. Người chết sau khi trút hơi thở cuối cùng, hồn phách thường ngơ ngác không biết mình đã qua đời, hoặc vì một mối vướng bận nào đó mà lần theo hơi ấm cũ quay về căn nhà quen thuộc.
Đi thôi, đưa tôi đến nhà cô.
Tôi chỉ nói ngắn gọn một câu rồi cùng Thẩm Bình bước ra trạm xe buýt.
Căn nhà của Cửu Thẩm Bình nằm ở tầng ba một khu tập thể cũ kỹ xây từ những năm tám mươi, thuộc quận Đạo Ngoại. Cầu thang bộ bằng xi măng xám xịt không có đèn chiếu sáng, những mảng sơn tường bong tróc để lộ lớp gạch đỏ mục rữa. Trên bậc thang vương vãi những mẩu giấy vàng mã cháy dở do hàng xóm đốt tiễn người chết lúc sáng sớm, mùi tro giấy khét lẹt quyện với mùi ẩm mốc của đường ống nước cũ.
Lên đến tầng ba, Thẩm Bình lấy chùm chìa khóa rỉ sét từ trong túi ra, bàn tay run đến mức tra mãi không trúng ổ khóa. Tôi đưa tay giữ lấy cổ tay cô, đón lấy chìa khóa rồi vặn chốt.
"Cạch."
Cánh cửa gỗ bọc da giả màu nâu sẫm mở ra.
Khác với cái lạnh buốt xương ngoài hành lang, bên trong căn nhà lại có một luồng hơi ấm phả thẳng vào mặt tôi. Đó là sự ấm áp của dàn sưởi gang cũ kỹ đang chạy hết công suất, hòa lẫn với mùi trầm hương nồng đậm và mùi hoa cúc trắng mới cắt cắm trong lọ. Căn phòng khách chỉ rộng chừng mười lăm mét vuông, đồ đạc bày biện đơn sơ nhưng sạch sẽ đến mức không một hạt bụi.
Chính giữa phòng khách kê một chiếc bàn gỗ vuông. Trên bàn phủ tấm vải trắng, đặt một khung ảnh gỗ mun lồng bức chân dung người phụ nữ trung niên có khuôn mặt phúc hậu, khóe mắt có nhiều nếp nhăn. Dưới chân di ảnh là một bát cơm trắng cắm đôi đũa tre vót nhọn dựng thẳng đứng, ba nén nhang cháy dở đang tỏa khói nghi ngút, tàn nhang rụng cong queo trên mặt đĩa sứ. Bên cạnh bát cơm đặt một tờ giấy xuyến biểu màu vàng, viết nắn nót năm chữ mực tàu: "Vương Thị Liên Hương".
Và ngay bên cạnh chiếc bàn thờ tạm ấy, trên chiếc ghế bành bọc vải hoa đã sờn rách, có một bóng người đang ngồi.
Đó là một người phụ nữ trạc năm mươi tuổi, mặc chiếc áo khoác len màu hạt dẻ đan tay, cổ quàng khăn lụa xanh thẫm. Thân hình bà mờ nhạt như một lớp khói mỏng tụ lại, ánh đèn tuýp trên trần nhà xuyên thẳng qua người bà chiếu xuống sàn gạch men hoa văn cũ. Hai bàn tay bà đặt ngay ngắn trên đầu gối, lưng thẳng, đôi mắt đùng đục không có tiêu cự đang hướng thẳng về phía cửa ra vào.
Khi chúng tôi bước vào, ánh mắt ấy khẽ chuyển động, dừng lại trên người Cửu Thẩm Bình.
Không có tử khí đặc quánh, không có oán hận hay mùi tanh nồng của huyết sát. Xung quanh bóng người kia chỉ có một lớp sương mù màu xám nhạt, tĩnh lặng và cô quạnh.
Thẩm Bình nép sát sau lưng tôi, cả người run bần bật, hơi thở dồn dập đứt quãng:
Bà... bà vẫn ngồi đó. Cố Trạch Ngôn, anh có nhìn thấy không?
Tôi thấy rồi.
Tôi cởi áo khoác ngoài vắt lên móc áo cạnh cửa, bước chậm rãi vào trong phòng. Đế giày nỉ bước trên sàn nhà phát ra tiếng sột soạt khô khốc. Tôi tiến đến trước bàn thờ, cúi đầu nhìn di ảnh rồi lại nhìn linh hồn người phụ nữ trên ghế. Khuôn mặt trong ảnh và khuôn mặt bóng ma kia hoàn toàn trùng khớp.
Chiếc áo khoác len màu hạt dẻ mà linh hồn đang mặc chính là chiếc áo thật đang được xếp vuông vức, đặt ngay ngắn ở góc bàn thờ cạnh bát cơm cúng. Những sợi len xù lông chứng tỏ nó đã được giặt và mặc qua rất nhiều mùa đông Đông Bắc.
Tôi quay sang hỏi Thẩm Bình:
Mẹ cô đi lúc mấy giờ?
Bốn giờ sáng ba hôm trước. Khi đó trong phòng cấp cứu chỉ có bác sĩ, tôi chạy đi nộp viện phí nên không kịp nhìn mặt mẹ lần cuối. Sáng nay người ta đưa thẳng từ nhà xác sang đài hóa thân hoàn vũ, tôi một mình ôm hũ tro về đây.
Giọng Thẩm Bình nghẹn lại, nước mắt bắt đầu chảy tràn trên đôi gò má tái nhợt vì lạnh:
Tôi chưa kịp mua áo quan cho mẹ, chưa kịp làm lễ nhập liệm, người ta bảo khu tập thể này không cho quàn người chết nên phải làm nhanh. Tôi chỉ biết lập cái bàn thờ này, thắp nhang rồi ngồi khóc. Đến trưa thì thấy mẹ hiện về ngồi ở kia.
Tôi hiểu ra nguồn cơn. Người Đông Bắc xưa nay coi trọng lễ nghi tiễn biệt. Người mất nơi đất khách hay bệnh viện, hồn phách thường bơ vơ. Nếu con cháu không làm lễ dẫn đường, không đốt áo ấm, không đọc tên tuổi bản quán để bẩm báo với Thổ Địa bản xứ, linh hồn sẽ không biết đường đi về cõi âm, chỉ quanh quẩn bên cạnh xác thịt hoặc đồ vật thân thuộc nhất của mình.
Bà Vương Thị Liên Hương ngồi ở đây không phải để dọa con gái, bà chỉ đang chờ một nghi thức trọn vẹn từ đứa con ruột thịt duy nhất.
Tôi quay sang Thẩm Bình, giọng trầm xuống:
Đi lấy cho tôi một cái chậu nhôm sạch, nửa bát rượu trắng, một con dao nhỏ và một thếp tiền vàng mã loại giấy bản chưa dập lỗ.
Thẩm Bình vội vã lau nước mắt, chạy vào gian bếp nhỏ lục lọi. Tiếng bát đĩa lách cách vang lên trong không gian tĩnh mịch. Linh hồn người mẹ trên ghế vẫn ngồi im, ánh mắt dõi theo từng bước chân của con gái, khóe môi khẽ cong lên một nét cười mờ ảo rồi lại nhanh chóng biến thành vẻ vô hồn cố hữu của người cõi âm.
Mấy phút sau, Thẩm Bình mang đồ ra đặt dưới chân bàn thờ.
Tôi xắn tay áo, nhặt tờ giấy ghi tên "Vương Thị Liên Hương" lên, dùng dao cắt một đường nhỏ ở mép giấy, sau đó nhúng đầu ngón tay vào bát rượu trắng, vẩy nhẹ ba giọt lên tờ giấy và chiếc áo khoác len màu hạt dẻ.
Cửu Thẩm Bình, quỳ xuống trước bàn thờ.
Thẩm Bình lập tức quỳ sụp xuống sàn gạch lạnh buốt, hai đầu gối chụm lại, hai tay nắm chặt mép quần.
Thắp thêm ba nén nhang nữa. Tự tay cô cắm vào bát cơm.
Thẩm Bình run rẩy bật quẹt ga, châm lửa vào ba nén nhang mới. Khói nhang màu xám xanh bốc lên, mùi trầm tỏa ra ngào ngạt lấn át cả không khí lạnh lẽo còn sót lại. Cô cắm nhang vào bát cơm, cẩn thận chỉnh cho ba nén thẳng hàng.
Tôi đặt chiếc chậu nhôm vào giữa khoảng trống giữa bàn thờ và chiếc ghế bành nơi linh hồn đang ngồi. Tôi cầm thếp tiền vàng mã, xé rời từng tờ, châm lửa từ ngọn nến trên bàn thờ rồi thả vào lòng chậu.
Lửa bùng lên, ánh lửa đỏ rực hắt lên khuôn mặt tái nhợt của Thẩm Bình và bóng hình mờ nhạt của người mẹ. Từng mảnh tàn tro đen nhánh cuộn tròn bay lên theo luồng khí nóng, chạm vào trần nhà rồi rơi lả tả xuống sàn.
Tôi cầm chiếc áo khoác len trên bàn thờ đưa cho Thẩm Bình:
Cầm lấy áo của mẹ cô. Vái ba vái rồi đặt lên miệng chậu lửa. Miệng đọc rõ: Mẹ Vương Thị Liên Hương, con gái Cửu Thẩm Bình dâng áo ấm, xin mẹ nhận lễ mà đi cho thanh thản.
Thẩm Bình ôm chiếc áo len vào lòng. Mùi mồ hôi cũ, mùi xà phòng bánh rẻ tiền vẫn còn vương trên từng sợi len. Cô áp mặt vào áo, bật khóc nức nở. Tiếng khóc kìm nén suốt ba ngày qua vỡ òa ra giữa căn phòng khách chật hẹp, vang vọng vào bốn bức tường vôi nứt nẻ.
Mẹ ơi... con gái bất hiếu không gặp được mẹ lúc lâm chung. Mẹ mặc áo ấm vào đi, ngoài trời lạnh lắm, đường xuống âm phủ tối tăm lắm mẹ ơi...
Thẩm Bình vừa khóc vừa vái lạy, trán dập xuống nền gạch phát ra những tiếng cộp cộp khô khốc. Sau cái vái thứ ba, cô run rẩy đặt mép chiếc áo len vào ngọn lửa đang cháy trong chậu nhôm.
Lửa bén vào sợi len, bốc lên mùi khét đặc trưng của lông cừu cháy. Kỳ lạ thay, chiếc áo len dày cộm bắt lửa rất nhanh, ngọn lửa chuyển sang màu xanh lam nhạt, không hề tỏa ra khói đen cay mắt.
Tôi nhìn sang chiếc ghế bành.
Bóng người phụ nữ mờ ảo bắt đầu động đậy. Bà từ từ đứng dậy khỏi chiếc ghế. Lớp sương mù xám nhạt quanh người bà dần tan biến dưới ánh lửa bập bùng. Chiếc áo len trên người bà bắt đầu phát ra ánh sáng ấm áp, phẳng phiu và lành lặn.
Bà bước một bước về phía Thẩm Bình đang quỳ gối cúi đầu sát đất. Bàn tay mờ ảo của bà vươn ra, đặt nhẹ lên đỉnh đầu con gái. Không có lực chạm vật lý, nhưng tôi thấy những sợi tóc con trên đầu Thẩm Bình khẽ lay động như có một luồng gió ấm thổi qua.
Người mẹ ngẩng đầu lên nhìn tôi. Đôi mắt đùng đục ban nãy giờ đã trở nên trong trẻo, mang theo sự nhẹ nhõm vô bờ bến. Bà khẽ cúi đầu chào tôi một cái theo đúng lễ nghi của người Đông Bắc xưa.
Tôi chắp tay đáp lễ.
Tro tàn trong chậu nhôm cháy rụi hoàn toàn, ngọn lửa lụi dần rồi tắt hẳn, chỉ còn lại lớp than hồng âm ỉ. Cùng lúc đó, bóng hình người phụ nữ cũng mờ dần đi, hóa thành một làn khói trắng mỏng manh, trôi lơ lửng về phía cửa sổ đang đóng kín rồi tan biến vào màn đêm lạnh giá của Cáp Nhĩ Tân.
Căn phòng khách rơi vào một khoảng im lặng tuyệt đối.
Chỉ còn lại tiếng thở dốc nghẹn ngào của Thẩm Bình và tiếng gió rít qua khe cửa sổ gỗ. Mùi trầm hương và mùi hoa cúc trắng lúc này trở nên thanh khiết, không còn cảm giác nặng nề đè nén như lúc mới bước chân vào.
Thẩm Bình từ từ ngẩng đầu lên. Cô nhìn chiếc ghế bành trống không, nơi chỉ còn lại vết lún mờ mờ trên lớp đệm vải hoa cũ kỹ, rồi nhìn chậu nhôm chỉ còn tro xám.
Cô gái đưa tay quệt nước mắt lem nhem trên mặt, cả người vẫn run lên từng hồi vì xúc động. Thẩm Bình chống tay xuống sàn định đứng dậy nhưng hai chân đã tê dại, cả người nghiêng sang một bên.
Tôi bước tới, đưa tay đỡ lấy khuỷu tay cô.
Thẩm Bình túm chặt lấy cổ tay áo tôi, những ngón tay gầy guộc lạnh ngắt siết chặt lại. Cô ngước nhìn tôi, đáy mắt vẫn còn đọng lại nỗi kinh hoàng của ba ngày qua xen lẫn sự khó hiểu cùng cực:
Anh không thấy sợ à?
Tôi đứng im giữa căn phòng nồng mùi khói nhang, không trả lời.