Đông Bắc Ngũ Tiên Dị Sự Lục - Chương 10: Nhím Rừng Đoạt Mệnh Cuối Đông

Mũi xẻng sắt cắm phập xuống lớp đất cứng ngắt vì băng giá, phát ra tiếng kêu chát chúa. Nhiệt độ ngoài trời lúc này là âm hai mươi lăm độ C. Hơi thở của…

Nội dung chương

Mũi xẻng sắt cắm phập xuống lớp đất cứng ngắt vì băng giá, phát ra tiếng kêu chát chúa. Nhiệt độ ngoài trời lúc này là âm hai mươi lăm độ C. Hơi thở của tôi vừa thoát ra khỏi khăn len đã lập tức hóa thành màn sương trắng đặc quánh, đóng thành những hạt đá li ti trên hàng mi.

Dưới gốc cây mận khẳng khiu trụi lá ở góc sân sau nhà bà Trương, lớp đất đen cuối cùng bị lật lên.

Một bọc xương thịt khô quắt lộ ra giữa những rễ cây ngoằn ngoèo. Đó là xác một con nhím to bằng chiếc mũ nồi, toàn bộ phần xương sọ phía trước đã vỡ vụn do một nhát đập tàn nhẫn bằng sống xẻng từ năm ngoái. Dù đã chôn vùi một mùa đông, lớp gai xám xịt của nó vẫn không hề mục nát, cắm ngược vào đất như những chiếc kim thép sắc nhọn. Mùi hôi thối pha lẫn mùi đất bùn ẩm mốc xộc thẳng vào mũi tôi.

Tôi cẩn thận dùng tấm vải đỏ bọc lấy bộ hài cốt, đặt lên chiếc bàn gỗ ngoài sân rồi bước vào trong nhà.

Trong gian phòng sưởi ấm bằng bếp lò than bùn nồng nặc mùi lưu huỳnh, bà Trương đang nằm vật vã trên giường sưởi. Chiếc chăn bông cáu bẩn bị đạp tung sang một bên. Vùng bắp chân và dọc sống lưng bà sưng vù, tím tái từng mảng lớn. Hàng chục chiếc gai nhọn đen nhánh cắm sâu trong lớp thịt hoại tử, đầu gai tiết ra thứ dịch mủ màu vàng đục có mùi tanh nồng của cá chết. Mỗi lần bà cựa quậy, những chiếc gai lại tự động thụt sâu thêm một phân, rạch nát từng thớ cơ thịt bên trong.

Thấy tôi bưng bọc vải đỏ bước vào, bà Trương nghiến răng trèo trẹo, hai mắt đỏ ngầu gắt gỏng:

Cậu đào cái thứ dơ bẩn đó lên làm gì? Nó chỉ là một con súc vật hoang ngoài vườn, phá hoại mấy luống cải của tôi. Tôi đập chết nó thì có tội tình gì mà phải cúng bái xin lỗi nó?

Cơn đau giằng xé khiến giọng bà nghẹn lại, nhưng vẻ cố chấp của một người cả đời quen thói đè đầu cưỡi cổ kẻ khác vẫn hằn rõ trên gương mặt nhăn nheo.

Tôi đặt tấm gỗ thông vừa gọt phẳng lên bàn, giọng lạnh tanh:

Bà nghĩ mạng của nó rẻ mạt, nhưng nó đã tu luyện dưới gốc mận này ba mươi năm. Nhát xẻng của bà không chỉ giết một con thú, mà hủy đi một đạo hạnh. Không quỳ xuống tạ lỗi, số gai này sẽ mọc xuyên qua tủy sống của bà trước đêm ba mươi Tết.

Cậu đừng có dọa tôi! Đồ mê tín dị đoan!

Tôi không đôi co. Tôi bước đến bên giường sưởi, đưa hai ngón tay quẹt một vệt tro hương từ trong túi vải, ấn thẳng vào huyệt Ấn Đường giữa hai chân mày của bà Trương. Đồng thời, tôi bẻ ngón tay trỏ của bà, nhỏ một giọt máu tươi lên mắt nhắm của bà rồi gằn giọng:

Mở mắt ra mà nhìn cho rõ chủ nợ của bà.

Bà Trương giật nảy mình, mở trừng hai mắt. Tiếng thở dốc của bà đột ngột ngưng bặt. Đồng tử bà co rút lại thành hai chấm nhỏ xíu.

Trên xà nhà bằng gỗ bạch dương phía trên giường sưởi, một bóng người lùn tịt, lưng gù gập, vận chiếc áo dài màu trắng toát đang ngồi thu lù một góc. Nửa khuôn mặt của lão già rách toạc, máu đen chảy ròng ròng từ đỉnh đầu vỡ nát xuống chiếc cằm nhọn hoắt. Lão không có mắt, chỉ có hai hốc xương trống rỗng đăm đăm nhìn xuống bắp chân đang mưng mủ của bà Trương. Mỗi đầu ngón tay khẳng khiu của lão đang cầm một chùm gai nhọn hoắt, liên tục xoay tròn theo từng nhịp tim đập.

Bà Trương run lẩy bẩy, hàm răng va vào nhau lập cập phát ra tiếng cồm cộp. Nước tiểu từ trên giường sưởi chảy tràn qua mép đệm rơi tong tỏng xuống nền gạch men.

Tôi... tôi xin lỗi... Tha cho tôi... Cố tiên sinh, cứu tôi với!

Muốn sống thì tự mình bước xuống đất.

Tôi kéo bà Trương rời khỏi giường sưởi. Đôi chân tơi tả vì gai nhọn của bà vừa chạm xuống nền đất lạnh buốt đã khụy xuống. Bà Trương quỳ rạp hai đầu gối, trán dập liên tục xuống nền gạch lạnh ngắt, phát ra những tiếng cộp cộp khô khốc.

Tôi bày mâm cúng theo đúng phong tục Đông Bắc. Một mâm cơm trắng đầy vun, một đĩa muối hạt, một bát nước trong lấy từ giếng làng, cùng bài vị bằng gỗ thông tôi vừa tự tay dùng dao khắc từng nét sâu hoắm: "Bạch Lão Thái Gia Chi Vị". Xác con nhím được đặt cẩn thận sau bài vị, phủ kín bằng tiền vàng mã.

Ba nén hương thơm cắm thẳng đứng vào bát gạo. Khói hương không bay tản mác mà tụ lại thành một dải trắng đục, cuộn tròn lấy bài vị gỗ rồi sà xuống bao phủ lấy thân thể bà Trương.

Đệ tử Cố Trạch Ngôn, kính thỉnh Bạch Tiên giáng lâm. Oán có đầu, nợ có chủ. Nay kẻ thủ ác đã cúi đầu nhận tội, lập bài vị hương hỏa ngàn năm, xin ngài thu hồi gai độc, tha cho một mạng tàn.

Tôi rút con dao găm bằng đồng bấm mạnh vào lòng bàn tay mình, nhỏ ba giọt máu vào mâm cơm trắng.

Ngay khi giọt máu thứ ba thấm vào hạt gạo, một tiếng rít the thé như tiếng gió lùa qua khe cửa vang lên khắp căn phòng. Đốm than đỏ trên ba nén hương rực sáng bùng lên.

Những chiếc gai đen cắm trên da thịt bà Trương bắt đầu động đậy. Từng chiếc gai sắt nhọn hoắt tự động xoay ngược chiều kim đồng hồ, từ từ nhô lên khỏi miệng vết thương. Máu đen cùng dịch mủ đặc quánh trào ra ngoài, kéo theo những chiếc gai nhọn rơi lộp độp xuống chiếc khay đồng đặt dưới sàn nhà.

Bà Trương nghiến chặt răng chịu đựng, cả người ướt đẫm mồ hôi lạnh.

Hai mươi phút sau, chiếc gai cuối cùng ở đốt sống lưng bật ra, rơi keng một tiếng đanh gọn vào khay đồng. Miệng các vết thương lập tức ngừng chảy mủ, máu đỏ tươi bắt đầu rỉ ra, kéo theo một lớp vảy màu xám mỏng phủ kín bề mặt da thịt, sạch sẽ không còn một mảnh dằm độc.

Trên xà nhà, bóng áo trắng lưng gù từ từ tan biến vào làn khói hương. Tro của ba nén nhang rụng xuống, uốn cong thành hình một chiếc đầu nhím cúi chào rồi vỡ vụn.

Bà Trương ngã vật ra sàn nhà, thở thoi thóp nhưng mạch đập ở cổ tay đã dần ổn định trở lại. Cơn bạo bệnh suýt lấy mạng bà đã hoàn toàn chấm dứt.

Tôi thu dọn dụng cụ, bọc khay đựng đầy gai nhọn lại bằng một tấm vải đen, bước ra khỏi căn nhà nồng nặc mùi thuốc sát trùng và mủ máu.

Gió lạnh phương Bắc táp thẳng vào mặt làm tôi tỉnh táo hẳn. Tuyết bắt đầu rơi lất phất, phủ một lớp bụi trắng mỏng lên những mái ngói xám xịt của thành phố Cáp Nhĩ Tân.

Đi bộ dọc theo con phố vắng tanh hướng về khu nhà trọ sinh viên, tôi nhìn bàn tay mình vẫn còn vương vệt máu khô. Tôi nhận ra con đường này không đơn giản là dùng pháp thuật để diệt trừ ma quỷ. Năm vị Tiên gia chốn rừng sâu tuy hung dữ tàn bạo, nhưng đều tuân theo quy luật vay trả rõ ràng của trời đất. Kẻ làm nghề như tôi, rốt cuộc chỉ là chiếc cầu nối đứng giữa ranh giới sống chết, ép con người phải nhìn thẳng vào tội lỗi của chính mình để trả một cái giá tương xứng.

Về đến phòng trọ, tôi cởi chiếc áo khoác dày cộp dính đầy bụi than, châm một ấm nước sôi đặt lên bếp điện mini. Căn phòng nhỏ chỉ rộng chừng mười mét vuông, đồ đạc đơn sơ trống trải.

Cánh cửa phòng đột nhiên bị đạp tung ra đánh rầm một tiếng.

Hứa Niệm đứng ở cửa, áo khoác dính đầy tuyết chưa kịp phủi, thở hồng hộc. Cậu ta cầm trên tay một tờ báo buổi chiều của thành phố, vẻ mặt tái mét, môi run rẩy:

Trạch Ngôn! Mày... mày biết tin gì chưa? Lão Bá chết rồi!

Tôi quay phắt lại, mắt nhìn chằm chằm vào người bạn cùng phòng:

Chết thế nào?

Hứa Niệm ném mạnh tờ báo lên chiếc bàn gấp bằng nhựa. Bức ảnh đen trắng in trên trang ba hiện ra rõ mồn một.

Đó là hiện trường một vụ tự sát trong khu nhà kho bỏ hoang ở ngoại ô phía bắc Cáp Nhĩ Tân. Lão Bá, tay thợ săn cáo khét tiếng khắp vùng rặng núi Đại Hưng An Lĩnh, đã treo cổ tự vẫn bằng một sợi dây chão bện bằng gân thú.

Thi thể lão lơ lửng ngay giữa gian nhà kho ẩm thấp. Phía dưới chân lão, xếp ngay ngắn thành từng tầng lớp là hàng trăm tấm da cáo khô màu đỏ rực, tất cả đều bị lột sạch lông ở phần trán. Đôi mắt mở trừng trừng của cái xác trong ảnh không có con ngươi, chỉ là hai hốc máu sâu hoắm đã bị khoét rỗng.

Cảnh sát nói lão phát điên rồi tự treo cổ tối qua. Nhưng kỳ lạ lắm, trên cổ lão không chỉ có vết hằn của dây thừng, mà toàn bộ da mặt bị cào nát bấy bởi những vết móng vuốt bốn ngón.

Hứa Niệm vừa nói vừa run, ngón tay chỉ vào bài báo.

Hồ Tiên đã bắt đầu đòi nợ.

Tôi bước nhanh tới bên cửa sổ, đẩy mạnh hai cánh gỗ ra ngoài. Gió tuyết thốc vào phòng làm tờ báo trên bàn bay phần phật.

Bên dưới con ngõ nhỏ ngập tràn tuyết trắng tinh khôi chưa có dấu chân người qua lại, một chuỗi dấu chân thú bốn ngón in sâu hoắm kéo dài từ bức tường gạch đổ nát thẳng tới dưới bậu cửa sổ phòng tôi.

Những dấu chân thú ấy không mang màu xám đen của đất bùn, mà đỏ lòm, tươi rói mùi máu tanh nồng bốc hơi nghi ngút giữa nền tuyết lạnh âm hai mươi lăm độ.

Hồ Tiên đã tự mình phá vỡ phong ấn để trốn thoát, hay đã có kẻ nào đó đứng sau mở đường cho nó ra ngoài?

Chương khác

Xem thêm