DUYÊN ÂM BÊN HỒ TÂY - Chương 50: Đám cưới bên hồ
Tháng mười năm 2026, ngôi nhà cổ ven Hồ Tây tổ chức một đám cưới nhỏ. Đó là đám cưới của Nguyễn Thanh Thư và Đỗ Hải Đăng, hai người đã tìm hiểu nhau chậm…
Nội dung chương
Tháng mười năm 2026, ngôi nhà cổ ven Hồ Tây tổ chức một đám cưới nhỏ.
Đó là đám cưới của Nguyễn Thanh Thư và Đỗ Hải Đăng, hai người đã tìm hiểu nhau chậm rãi suốt hơn nửa năm. Qua những buổi cà phê đầu ngõ, những lần kiểm tra lại ngôi nhà sau các trận mưa, những bữa cơm gia đình đàng hoàng và những cuộc điện thoại ngắn vào buổi tối. Không mai mối, không dạm ngõ rình rang, không một ngày giờ nào bị ấn định trong vội vàng. Tới khi cả hai cùng thấy đã hiểu nhau đủ, họ tự ngồi xuống với hai bên gia đình, chọn một ngày mùa thu mát mẻ. Họ thống nhất làm một đám cưới nhỏ ngay tại ngôi nhà này, chỉ mời họ hàng hai bên và bạn bè thật thân, tiệc bày ở sân nhà và nối thêm mấy bàn ra phần ngõ trước cổng.
Buổi sáng ngày cưới, Thư dậy sớm như thói quen của một năm qua, ngủ một giấc liền mạch và tỉnh dậy với hai vai ấm áp bình thường. Cô ngồi trước bàn trang điểm trong phòng ngủ của mình ở tầng hai, để người thợ trang điểm quen của gia đình chải tóc và cài lên tóc cô một chiếc trâm nhỏ do bà Lan giữ từ ngày cưới của chính bà. Qua ô cửa sổ mở hé, gió mùa thu từ mặt hồ đưa vào phòng mát và trong. Tấm gương soi lớn kê đối diện cửa sổ phản chiếu hình cô dâu trong chiếc áo dài trắng ngà, mặt gương khô ráo, trong trẻo, sáng lên dưới nắng sớm. Thư nhìn mình trong gương một lúc lâu, gương mặt bình thản và tươi, không một dấu vết nào của những đêm mất ngủ, những cơn lạnh vai, những buổi sáng tỉnh dậy với nỗi sợ không tên của năm năm về trước.
Trước giờ nhà trai tới, Thư xin phép được một mình xuống gian giữa tầng một ít phút. Gian thờ đã được bà Lan lau dọn từ hôm trước, bát hương cắm đầy hoa cúc vàng, mâm quả xếp ngay ngắn, và trên bàn thờ, khung ảnh của cha cô đứng ở vị trí trang trọng nhất như mọi ngày trong nhà. Thư mặc nguyên áo dài cưới, cầm ba nén nhang, đứng trước bàn thờ gia tiên châm nhang bằng hai tay, cắm ngay ngắn vào bát hương, rồi chắp tay khấn thầm. Cô khấn với tổ tiên, khấn với cha mình, rằng hôm nay con gái lấy chồng, lấy một người tử tế do chính mình lựa chọn sau một thời gian tìm hiểu đàng hoàng. Cô khấn rằng ngôi nhà này từ nay vẫn là nhà của gia đình, và rằng con mong cha ở nơi xa yên lòng. Khói nhang bay lên thẳng và êm trong gian nhà không gió. Thư đứng yên thêm một lúc nữa, rồi mới cúi đầu lạy ba lạy và quay ra.
Ở góc phòng khách, trên chiếc bàn gỗ được phủ khăn mới, gia đình đặt cuốn album ảnh lớn của nhà như một phần trang trí của ngày cưới, để họ hàng và bạn bè tới dự có thể mở ra xem. Trong album, ở trang riêng trang trọng của nó, là tấm ảnh năm 1971 của Đỗ Văn Sơn và Nguyễn Thị Thanh Nhàn ở bến nước Nghi Tàm, đặt ngay cạnh trang ảnh cưới của cha mẹ Thư. Ý này là của bà Sen. Bà bảo người đã khuất cũng là người nhà theo một cách của riêng họ, ngày vui của cháu, cứ để tấm ảnh ở đó, như mời hai người ấy về dự cùng một cách yên lặng. Suốt buổi sáng, mấy người họ hàng lớn tuổi mở album ra xem, dừng lại ở tấm ảnh cũ khá lâu, có người còn nhận ra làng Nghi Tàm ngày xưa, nhận ra bến nước và cây gạo, rồi kể thêm một hai câu chuyện cũ cho lớp trẻ nghe. Tấm ảnh từng nằm giấu trong đáy tủ suốt ba mươi mốt năm, từng được đặt lên đàn lễ trong một đêm đầy khói nhang. Giờ nó nằm yên trong cuốn album của một đám cưới, giữa tiếng cười nói của con cháu, và không còn ai nhìn nó bằng ánh mắt sợ hãi nữa.
Bà Sen năm nay tám mươi lăm tuổi, là người mừng nhất trong nhà ngày hôm ấy. Bà mặc chiếc áo dài gấm màu tím trầm do con cháu may mới, tóc bạc búi gọn, ngồi ở ghế chủ tọa trong gian giữa từ sớm, lưng thẳng, mắt sáng, tỉnh táo tiếp từng người khách tới chúc mừng. Ai tới, bà cũng nắm tay hỏi han đủ chuyện, nhớ rõ họ hàng từng người. Có lúc bà Lan ghé tai Thư nói nhỏ rằng từ ngày lễ xong tới giờ, bà khỏe hẳn ra, ăn ngon, ngủ ngon, như người đã đặt xuống được một gánh nặng mang từ thời con gái. Thư nhìn bà ngồi giữa gian nhà đông người, cười nói rạng rỡ trong ngày cưới của cháu gái, và cô nghĩ về người bạn thân của bà, cô giáo Nhàn, người đã không có được một ngày như thế này trong suốt cuộc đời mình. Ý nghĩ ấy làm mắt cô cay lên một thoáng, nhưng là cái cay mắt của lòng biết ơn.
Đám cưới diễn ra gọn gàng và ấm cúng từ trưa tới chiều. Nhà trai tới trong tiếng pháo giấy và tiếng reo của trẻ con trong ngõ. Đăng mặc bộ vest sẫm màu, đứng giữa sân nhà cô, chính khoảng sân từng dựng đàn lễ gần một năm trước, giờ trải chiếu hoa, kê bàn tiệc, treo mấy dây đèn nhỏ dọc theo giàn hoa giấy. Anh nhìn cô bước ra trong áo dài cưới, ánh mắt anh sáng lên một niềm vui không giấu được. Thư đi qua khoảng sân quen thuộc ấy về phía anh mà trong lòng không hề có một cơn lạnh nào chạy qua vai. Chỉ có niềm vui rất thật của một cô dâu trong ngày cưới của chính mình.
Tiệc cưới bày ở sân và nối ra ngõ, món ăn do họ hàng hai bên cùng nhau nấu từ sớm, tiếng bát đũa, tiếng chúc tụng và tiếng trẻ con chạy chơi làm cả con ngõ nhỏ rộn ràng tới tận buổi chiều. Bà Lan đi lại giữa các bàn không lúc nào ngơi tay mà mặt bà rạng rỡ, khác hẳn người mẹ từng tái mặt vì lo lắng trong những buổi mai mối năm xưa. Hằng, trong vai trò bạn thân kiêm người phụ giúp cô dâu từ sáng, lúc nào cũng ở gần Thư nhất, khi thì chỉnh lại vạt áo, khi thì đưa cho cô cốc nước. Tới lúc tiệc đã ngà ngà vui, Hằng ghé tai cô dâu trêu một câu mà chỉ hai người mới hiểu hết.
- Công nhận vía mày bây giờ nhẹ thật. Nhẹ nhất khu này luôn đấy.
Mấy người bạn cùng khoa ngồi cùng bàn nghe được câu ấy cũng cười theo, trêu cô dâu là người vía nhẹ nhất khu, rồi lại nâng ly chúc mừng như một câu đùa bình thường trong một đám cưới bình thường. Thư cười cùng mọi người, không giải thích gì thêm. Chỉ mình cô và Hằng biết câu đùa ấy đã đi qua những gì mới trở thành một câu đùa được. Cô nhìn quanh sân nhà đầy người thân và bạn bè, và thầm cảm ơn sự bình thường này, thứ bình thường mà có thời cô tưởng mình không bao giờ còn có lại được nữa.
Suốt cả ngày cưới hôm ấy, trong ngôi nhà này không xảy ra một điều gì bất thường. Không có cơn lạnh nào đè lên vai cô dâu giữa trưa thu nắng đẹp. Bộ ấm chén sứ mới bày trên bàn tiếp khách ở gian ngoài rót trà mời khách cả ngày vẫn nguyên vẹn, không một vết nứt. Buổi chiều, khi Thư lên phòng thay chiếc áo dài thứ hai, cô đi ngang qua tấm gương soi lớn trong phòng ngủ, mặt gương vẫn khô ráo và trong, phản chiếu nắng chiều và bóng cô đi qua, không một vệt hơi nước, không một dòng chữ nào. Mọi thứ đều bình thường tới từng chi tiết nhỏ nhất, và chính sự bình thường trọn vẹn ấy là món quà lớn nhất mà ngày cưới này mang lại cho cô.
Chiều muộn, khi khách khứa đã thưa dần, Đăng cùng Thư đi một vòng quanh ngôi nhà, chào và cảm ơn những người họ hàng còn ở lại. Họ dừng lại ở khoảng sân trước, nơi nắng cuối ngày đang rút dần khỏi nền gạch. Đăng ngẩng lên nhìn mái ngói ngay ngắn và khung nhà vững chãi, rồi quay sang nói với vợ mình một câu nửa đùa nửa thật, nhắc lại chính lời anh đã nói vô tình trong buổi khảo sát đầu tiên gần một năm về trước.
- Hồi mới tới đây, anh đã nói nhà này xuống cấp nhiều chỗ mà khung chính vẫn vững lạ thường, như có người giữ không cho nó sập. Bây giờ sửa xong rồi, anh thấy có khi người giữ nhà ấy chính là nhà mình đấy em ạ. Là bà, là mẹ, là em, những người nhất định không chịu bán nó đi.
Thư đứng bên cạnh chồng, nghe câu nói cũ được nhắc lại trong một ngày hoàn toàn mới, và cô mỉm cười rất lâu. Cô không nói cho anh nghe hết mọi nghĩa mà câu nói ấy từng mang trong lòng cô suốt một năm qua. Có những phần của câu chuyện này, cô sẽ kể cho anh nghe dần dần trong những năm tháng vợ chồng phía trước, vào những buổi tối yên tĩnh, như kể một chuyện gia đình đã qua. Còn hôm nay, cô chỉ nắm lấy tay anh giữa khoảng sân đầy nắng cuối ngày, và nói một câu ngắn gọn mà thật lòng.
- Từ nay thì mình cùng giữ anh nhé. Nhà này, từ nay là người sống giữ cho người sống ở.
Tối hôm ấy, sau khi tiệc tan và họ hàng bạn bè đã ra về gần hết, ngôi nhà trở lại yên tĩnh trong một nỗi yên tĩnh đầy tiếng người. Từ tầng hai, Thư vẫn nghe thấy tiếng bà Lan và mấy người họ hàng ở tầng dưới vừa dọn dẹp vừa cười nói, tiếng bát đĩa rửa dưới bếp, tiếng bà Sen dặn dò con cháu cất phần cỗ còn lại cho cẩn thận. Cô đứng một mình ở cửa sổ phòng ngủ, căn phòng từ nay là phòng của hai vợ chồng, nhìn ra ngoài trong ít phút nghỉ ngơi cuối cùng của một ngày dài và vui.
Ngoài cửa sổ, mặt hồ phẳng lặng dưới trăng tháng mười. Trăng sáng và tròn, in xuống mặt nước một vệt sáng dài và yên. Gió đêm đưa vào phòng mùi nước hồ mát lành và tiếng lá khế xào xạc rất khẽ trong sân. Thư đứng vịn tay vào khung cửa sổ, nhìn mặt hồ một lúc lâu, lòng yên tới mức cô có thể nghe rõ cả nhịp thở của chính mình. Sau lưng cô là ngôi nhà ấm đèn, là tiếng cười nói của người thân đang dọn dẹp, là cuộc sống đang tiếp diễn một cách bình thường và đầy đặn trong từng gian phòng.
Cô khép cửa sổ lại, quay vào phòng. Trên chiếc giường của hai vợ chồng, chăn gối đã được trải mới tinh tươm từ buổi sáng. Không còn ai ngồi bên mép giường của cô nữa, không một bóng người nào trong bóng tối, không một sức nặng vô hình nào chờ cô trong những đêm dài. Chỉ có người chồng bằng xương bằng thịt của cô đang đợi cô ở gian ngoài, sắp bước vào với hai cốc nước ấm trên tay, hỏi cô một câu đời thường rằng hôm nay em có mệt lắm không. Thư mỉm cười, tắt bớt một ngọn đèn trong phòng, và đi về phía tiếng gọi rất khẽ của chồng mình. Cô khép lại sau lưng một ngày cưới trọn vẹn và mở ra những đêm bình thường, ấm áp, chỉ thuộc về người sống, từ nay cho tới rất lâu về sau.