HEO LỤC NANH RỪNG U MINH - Chương 1: Nước nổi vào rừng

Ngày 15 tháng 9 năm 2025, nước đã ngập trắng bìa rừng tràm U Minh Hạ từ lúc trời chưa sáng hẳn. Trần Văn Lượm thức dậy khi tiếng nước vỗ vào chân cột nhà…

Nội dung chương

Ngày 15 tháng 9 năm 2025, nước đã ngập trắng bìa rừng tràm U Minh Hạ từ lúc trời chưa sáng hẳn.

Trần Văn Lượm thức dậy khi tiếng nước vỗ vào chân cột nhà sàn nghe rõ hơn mọi bữa. Căn nhà lá ở ấp Kinh Ba nằm sát mé kinh, sàn cao hơn mặt đất một thước, vậy mà nước nổi đã liếm tới bậc thang thứ hai. Ông ngồi dậy, chân trần quờ xuống tìm đôi dép, nghe hơi lạnh của buổi sớm tháng chín luồn qua khe vách. Ngoài kia, sương còn treo trên mặt kinh Tám Ngàn Nhỏ, và xa hơn nữa là rừng tràm đen thẫm, chìm một nửa trong nước.

Ông năm nay sáu mươi tám tuổi, lưng đã hơi còng, tóc cắt ngắn bạc gần hết, nhưng tay chân còn dẻo như hồi năm mươi. Nghề của ông là nghề rừng, nghề bẫy trăn. Họ Trần ở đất này đã ba đời đi rừng: ông nội là Trần Văn Kỉnh, cha là Trần Văn Bảy, tới ông là đời thứ ba. Người ta ở ấp Kinh Ba hay nói nhà ông Lượm ăn cơm của rừng, ngủ cũng nghe tiếng rừng, chết cũng gửi xương cho rừng. Ông nghe riết thành quen, không cãi.

Con Vện đã đứng chờ ở cửa từ bao giờ. Nó là chó cỏ lai, lông vàng pha vện đen, sáu tuổi, theo ông đi rừng từ lúc còn nhỏ xíu. Thấy ông xách cây đèn pin và con dao rừng, nó quẫy đuôi, miệng rít lên một tiếng nhỏ rồi chạy trước xuống bến. Xuồng ba lá của ông buộc ở gốc tràm sau nhà, bob bềnh trên mặt nước đục màu lá mục. Ông bước xuống xuồng, tay vịn mạn cho khỏi chao, Vện nhảy lên đứng ở mũi, bốn chân giữ thăng bằng như người quen sóng.

- Đi một vòng thôi, mày đừng có ham rượt rắn nước mà té xuống kinh nghe chưa.

Vện ngoảnh lại, tai dựng lên, coi như đã hiểu.

Ông chống sào đẩy xuồng ra khỏi bến. Nước năm nay lên nhanh thiệt. Mới đầu tháng tám, nước còn ở ngoài đồng, vậy mà qua rằm tháng tám nó đã tràn vô rừng, ngập hết mấy lung thấp, ngập cả đường mòn đất mà mùa khô người ta đi bộ được. Ông chèo dọc theo kinh Tám Ngàn Nhỏ, hai bên là tràm nước thân trắng, lá nhỏ rủ xuống, rễ chùm chìm dưới mặt nước đen. Thỉnh thoảng một con cá lóc quẫy nghe bụp một tiếng, một con chim trích kêu ré lên rồi bay là là qua màn sương.

Dãy bẫy trăn của ông đặt rải rác theo tuyến tràm già, chỗ nào có dấu trăn bò qua bùn, chỗ nào có hang ếch nhái tụ lại là ông biết đặt. Bẫy làm bằng tre đan, miệng phễu, mồi là con vịt xiêm nhỏ hoặc mớ ếch còn sống, buộc khéo cho trăn chui vô thì không ra được. Người ngoài nhìn vô thấy đơn giản, nhưng đặt sai một gang tay là mất cả tuần công. Ông thuộc từng gốc tràm ở đây như thuộc từng đường chỉ tay. Gốc này năm ngoái dính con trăn gấm, gốc kia có tổ ong, lung kia sâu, xuồng vô là mắc cạn.

Bẫy đầu tiên trống không, chỉ có mớ lông vịt ướt sũng. Ông lắc đầu, gỡ rác lá ra, đặt lại cho ngay. Bẫy thứ hai cũng trống. Tới bẫy thứ ba, nằm khuất sau một bụi choại dày, xuồng chưa tới ông đã nghe tiếng tre kêu cọt kẹt. Vện đứng thẳng người, mũi hít hít, gầm gừ trong cổ họng.

Ông tắt tiếng chèo, để xuồng trôi vô từ từ. Trong bẫy, một con trăn đất lớn đang cuộn chặt, thân to bằng bắp chân người lớn, da nâu sẫm điểm vệt đen, đầu thò ra khỏi miệng phễu một chút rồi thụt lại. Nó đã nuốt con mồi, bụng phình lên, sức còn mạnh nhưng kẹt cứng.

- Được rồi, bữa nay có lộc.

Ông nói khẽ, tay nắm chặt đầu bẫy, tay kia luồn dây thừng. Làm nghề này, sợ nhất là hấp tấp. Trăn lớn khi bị dồn, nó quật một cái là gãy xương sườn người già như ông dễ như chơi. Ông chờ nó mỏi, chờ xuồng hết chao, rồi mới siết dây, kéo cả cái bẫy lên xuồng trong một nhịp gọn. Bẫy tre nặng trịch, nước chảy ròng ròng. Con trăn cựa mình, xuồng nghiêng sang một bên, Vện sủa lên một tiếng ngắn rồi im, như biết không được làm ông phân tâm.

Ông cột chặt miệng bẫy, lấy tấm lưới cũ phủ lên, rồi ngồi thở một hơi dài. Mồ hôi đã ướt lưng áo bà ba, dù trời còn sớm. Sáu mươi tám tuổi rồi, mỗi lần kéo một con trăn như vầy, ông thấy rõ tuổi của mình hơn lúc soi gương. Hồi trẻ, một con như vầy ông vác lên vai đi bộ qua hai con lung. Bây giờ phải nhờ xuồng, nhờ dây, nhờ kinh nghiệm giữ cho khỏi ngã.

Trên ngực ông, chiếc nanh heo rừng áp vào da, lạnh ngắt như mọi ngày.

Chiếc nanh dài hai mươi hai phân, là nanh hàm dưới bên phải, gãy ở chân nanh, được thầy Sáu Xương khắc chín chữ bùa Lỗ Ban, bọc bạc ở phần gốc, xỏ dây đeo trước ngực. Ông đeo nó từ năm 2015, ngày cha ông là Trần Văn Bảy mất và trao lại. Trước đó, ông nội Kỉnh đeo nó suốt từ năm 1975 tới năm 2003. Ông không nhớ có ngày nào chiếc nanh ấm lên. Mùa nắng nó lạnh, mùa mưa nó cũng lạnh, lạnh kiểu của một vật đã nằm yên trong nhà họ Trần quá lâu, lạnh như đá dưới đáy kinh. Người trong nhà quen rồi, coi cái lạnh đó là bình thường, là dấu hiệu mọi chuyện còn yên.

Ông đưa tay chạm nhẹ qua lớp áo, thấy cái lạnh quen thuộc thấm vào đầu ngón tay, tự nhiên thấy yên lòng.

Chèo thêm một đoạn nữa, ông ghé vào tuyến bẫy gần rìa Đất Lính. Chỉ mới tới gần thôi, chưa bước vô trảng đất đó, mà không khí đã khác. Nước ở đây đen hơn, mặt nước phẳng hơn, mùi bùn tanh nồng lên rõ rệt, tanh kiểu bùn bị khuấy từ sâu dưới đáy chứ không phải mùi lá mục thường ngày. Mấy cây tràm đứng thưa, thân xám, rễ trồi lên như những bàn tay gầy. Bẫy đặt ở đây trống trơn, miệng bẫy còn nguyên, mồi cũng còn nguyên, như thể thú rừng tránh hẳn chỗ này mấy bữa nay.

Ông đứng trên xuồng nhìn sâu vào phía trảng. Đất Lính, dân quanh vùng ai cũng biết mà ít ai dám nhắc lớn tiếng. Đó là trảng đất trong rừng sâu, có hố bom cũ từ thời chiến tranh. Người già nói dưới đó có người nằm, đất đó phải để yên. Ông đi rừng cả đời, chân từng tới bìa trảng vài lần để đặt bẫy rồi rút ra, chưa bao giờ ngủ lại, chưa bao giờ đào bới gì ở đó. Lệ rừng là vậy: chỗ nào có người nằm, thợ săn đi qua phải bước nhẹ, có khi còn phải gật đầu chào một cái trong bụng.

Nước năm nay lên nhanh và lên lạ. Ông nhớ mùa nước năm ngoái, tới cuối tháng chín nước mới ngập tới tuyến tràm này. Năm nay mới giữa tháng, nước đã cao hơn một gang. Và cái mùi tanh này, ông ngửi thấy từ mấy bữa trước, càng gần Đất Lính càng rõ.

Ông gỡ bẫy trống lên xuồng, quyết định không đặt lại ở tuyến này nữa.

- Về thôi Vện. Chỗ này bữa nay không nên ở lâu.

Vện không sủa, chỉ đứng nhìn về phía trảng một lúc, tai cụp xuống một chút rồi mới quay đầu.

Đường về, ông chèo chậm, ghé thêm hai bẫy nữa, được thêm một con trăn nhỏ, thân bằng cổ tay, ông thả nó đi. Nghề săn cũng có lệ của nghề săn: con còn nhỏ thì thả, con đang ôm trứng thì thả, bắt hết thì năm sau rừng trống, mình cũng đói. Ông nội dạy vậy, cha dạy vậy, ông giữ vậy tới giờ.

Về tới nhà thì trời đã đứng bóng. Nắng tháng chín ở Cà Mau gắt, hắt xuống mặt kinh loang loáng, hơi nước bốc lên ngột ngạt. Ông kéo xuồng vô bến, cột dây vào gốc tràm, rồi cùng Vện khiêng cái bẫy có con trăn lớn lên sân. Con trăn sẽ được bán cho mối quen ở thị trấn U Minh, hoặc để Toàn, con trai ông, chạy ghe chở đi bán cho vựa. Toàn năm nay bốn mươi tuổi, chạy ghe chở hàng và đưa khách du lịch sinh thái, ít khi vào rừng sâu như cha, đầu óc tính chuyện làm ăn nhanh hơn ông nhiều.

Ông treo con trăn lên giàn sau nhà, rửa tay, múc nước trong lu ra uống một hơi dài. Nước mưa trữ từ đầu mùa, mát và ngọt. Vện nằm dài dưới sàn, lưỡi thè ra, ông quăng cho nó phần cơm nguội trộn cá khô, nó ăn ngon lành.

Trong nhà, mọi thứ vẫn như cũ: bàn thờ nhỏ ở gian giữa, tấm ảnh đen trắng của ông nội và cha đặt cạnh nhau, chiếc hộp gỗ cũ cất dưới bàn thờ, bộ đồ nghề đi rừng treo trên vách, cái đài nhỏ chạy pin để nghe tin tức. Vợ ông, bà Nguyễn Thị Đẹp, mất năm 2018, từ đó nhà chỉ có ông với con Vện, Toàn và cháu Trâm thỉnh thoảng mới về.

Bữa trưa, ông ăn cơm với cá rô kho và canh chua bông điên điển hái ở mé kinh. Ăn xong, ông mở đài. Đài báo có bão xa ngoài Biển Đông, chưa vào đất liền nhưng sẽ gây mưa lớn ở vùng đồng bằng trong mấy ngày tới. Xen giữa tin bão là tin giá vật liệu xây dựng, giá cát lại tăng, mấy công trình đang thiếu cát, người ta đang lùng mua khắp nơi. Ông nghe tới đó thì tắt đài, ngồi lặng một lúc. Giá cát tăng, ông biết, thế nào cũng có người dòm ngó tới những bãi cát chìm trong rừng, những chỗ xưa nay không ai dám động vào vì kiêng cữ, vì xa, vì đất có chủ là người chết.

Chiều xuống, mặt kinh phẳng lặng một cách lạ. Không có gió, không có ghe qua, chỉ có tiếng nước vỗ nhè nhẹ vào chân cột và tiếng côn trùng bắt đầu rộ lên từ phía rừng. Ông ngồi ở hiên nhà vá lại tấm lưới rách, tay đưa kim thoăn thoắt theo thói quen mấy chục năm. Thỉnh thoảng tay ông vô thức chạm vào chiếc nanh trước ngực. Nó vẫn lạnh ngắt, lạnh yên ổn.

Vện nằm dưới chân ông, đầu gác lên dép, ngủ gà ngủ gật. Một ngày đi rừng bình thường, có lộc, không có chuyện gì đáng kể, vậy mà trong bụng ông cứ có một cảm giác không yên, như mặt nước phẳng lặng kia đang giấu cái gì bên dưới.

Trời tối hẳn, ông thắp đèn dầu, ăn bữa cơm chiều đơn giản rồi dọn dẹp. Trước khi vào ngủ, ông ra hiên đứng một lúc, nhìn về phía rừng sâu. Rừng đen đặc, không một ánh đèn, không một tiếng máy, chỉ có tiếng nước nổi vỗ bì bõm và tiếng ếch nhái kêu xa xa. Nhưng cái im lặng của rừng bữa nay không giống im lặng thường ngày. Nó im như đang nín thở.

Ông nói một mình, tiếng nói nhỏ, chỉ đủ cho Vện nghe:

- Năm nay nước lên lạ. Rừng cũng im lạ.

Vện ngẩng đầu nhìn ông, rồi lại nằm xuống, tai vẫn dựng lên hướng về phía rừng, rất lâu sau đó mới chịu ngủ.

---

Chương khác

Xem thêm