HEO LỤC NANH RỪNG U MINH - Chương 2: Ba đời thợ săn
Chiều ngày 16 tháng 9 năm 2025, ghe máy của Trần Văn Toàn cập bến nhà ở ấp Kinh Ba khi nắng đã dịu xuống trên mặt kinh. Toàn bước lên sàn, tay xách túi…
Nội dung chương
Chiều ngày 16 tháng 9 năm 2025, ghe máy của Trần Văn Toàn cập bến nhà ở ấp Kinh Ba khi nắng đã dịu xuống trên mặt kinh.
Toàn bước lên sàn, tay xách túi đồ ăn mua ở thị trấn, theo sau là con gái anh, Trần Ngọc Trâm, mười một tuổi, học lớp năm ở xã Khánh An. Con bé đeo cặp nhỏ, tóc cột hai bên, vừa thấy ông nội đã chạy tới ôm ngang hông, miệng líu lo kể chuyện ở trường. Lượm đang ngồi vá bẫy ở hiên, thấy cháu thì mặt giãn ra, nếp nhăn nơi khóe mắt sâu thêm vì cười.
- Ông nội, bữa nay ông có bắt được trăn không?
- Được một con lớn, treo ở giàn sau. Con đừng có ra đó nghịch, nó còn mạnh lắm.
- Con chỉ coi thôi, con không sợ đâu.
Trâm nói vậy nhưng vẫn níu tay ông khi đi vòng ra sau nhà. Con trăn đất nằm cuộn trong bẫy tre, thỉnh thoảng cựa mình làm cái bẫy rung lên. Trâm đứng cách một khoảng, mắt mở to, vừa sợ vừa thích. Toàn đứng phía sau, tay đặt lên vai con, lắc đầu cười.
- Cha coi, nó mê rừng giống cha hồi nhỏ. Ở thị trấn mà cứ đòi về đây hoài.
- Về thì về, rừng này là nhà của nó mà. Mai mốt lớn, nó cũng phải biết nhà mình từ đâu ra.
Bữa cơm chiều hôm đó ấm hơn mọi bữa. Toàn mua cá lóc đồng và ít rau ở chợ, Lượm kho cá với nước dừa, nấu canh chua. Trâm ăn ít mà hỏi nhiều. Con bé hỏi chuyện đi rừng có ma không, chuyện ông bắt trăn bằng tay không có thiệt không, chuyện con Vện hồi nhỏ bị rắn cắn suýt chết ra sao. Ông trả lời từng chuyện một, chậm rãi, không thêm thắt. Nghề kể chuyện của người già ở vùng này là vậy, chuyện nào nhớ thì kể, chuyện nào không chắc thì nói không chắc.
Ăn xong, trời sập tối nhanh. Mưa không rơi nhưng hơi nước từ mặt kinh bốc lên làm không khí ẩm và mát. Lượm nhóm bếp lửa nhỏ ở gian sau, không phải để nấu gì, chỉ để có ánh lửa ngồi nói chuyện và đuổi muỗi. Trâm ngồi sát bên ông, tay cầm ly nước trà ấm. Toàn ngồi đối diện, thỉnh thoảng châm thêm củi. Ánh lửa hắt lên vách lá, lên tấm ảnh thờ, lên chiếc nanh bạc trước ngực ông.
Trâm nhìn chiếc nanh một lúc lâu rồi mới hỏi:
- Ông nội, chiếc nanh này là nanh con gì vậy ông? Sao ông đeo hoài không tháo ra?
Lượm đưa tay chạm vào chiếc nanh. Nó lạnh ngắt qua lớp áo, như mọi ngày.
- Nanh heo rừng. Nanh này là của ông cố của con để lại.
- Ông cố là ông nào?
- Là ông nội của ông, tên Trần Văn Kỉnh. Người đầu tiên trong nhà mình làm nghề thợ săn ở rừng này.
Ông bắt đầu kể, giọng đều đều như tiếng nước vỗ ngoài sàn.
Họ Trần tới đất U Minh này từ thời ông cố Kỉnh còn trẻ. Hồi đó rừng còn dày hơn bây giờ nhiều, tràm mọc kín, đước chen nhau, thú rừng đi thành đàn. Ông cố Kỉnh là thợ săn gan lì thời chiến tranh, đi rừng trong bom đạn, đặt bẫy, săn trăn, săn heo rừng, có khi đi cả tuần mới về. Người ta nói ông cố thuộc rừng hơn thuộc đường làng, nghe tiếng chim kêu là biết có người lạ vào rừng, ngửi mùi gió là biết trời sắp mưa lớn.
Tới đời cha của ông, Trần Văn Bảy, là đời thứ hai. Cha Bảy giữ rừng những năm sau hòa bình, ít săn hơn, chủ yếu bẫy trăn và dẫn người đi rừng khi cần. Cha Bảy tính hiền, ít nói, giữ chiếc nanh từ năm 2003 khi ông cố mất, đeo tới năm 2015 thì mất, trao lại cho ông.
- Vậy ông là đời thứ ba?
Trâm đếm trên đầu ngón tay.
- Ừ, ông là đời thứ ba. Con là đời thứ năm, nếu tính từ ông cố.
- Còn chiếc nanh, sao nó truyền hoài vậy ông? Nó có bùa thiệt hả ông?
Lượm im lặng một chút. Có những chuyện ông đã nghe từ ông nội, có những chuyện ông chỉ biết một nửa, và có những chuyện ông nội dặn là chưa tới lúc nói hết cho con cháu nghe. Nhưng cái chính thì ông nói được, và phải nói, vì nhà này nếu quên ơn thì chiếc nanh cũng mất nghĩa.
- Nanh này ông cố nhặt được trong rừng năm 1975, trong một lần suýt chết. Ông cố mang về, nhờ thầy Sáu Xương khắc chín chữ bùa Lỗ Ban lên đó, rồi bọc bạc, đeo trên cổ suốt đời. Thầy Sáu là thầy bùa giỏi ở vùng này, cũng là thợ mộc, tay nghề cao. Thầy khắc xong thì dặn, bùa này chỉ giữ cho người đeo được yên, không sai khiến được ai hết, cũng không làm giàu cho ai hết.
- Vậy sao phải đeo?
- Vì ông cố trối lại một câu. Ông nói chiếc nanh này là của một ông thần còn sống. Không phải đồ của mình, mình chỉ giữ giùm. Bán đi là nhà này mất phước.
Trâm tròn mắt.
- Ông thần còn sống là sao ông? Thần mà còn sống hả?
- Là ông cố nói vậy. Thần ở trong rừng sâu, người nhà mình không được phép quên ơn của thần. Ông cố dặn sao, cha của ông dặn lại vậy, tới ông cũng dặn lại vậy. Đeo nó, đừng bao giờ bán.
Toàn ngồi nghe, mặt không biểu lộ gì nhiều, nhưng tay anh ngừng châm củi. Anh đã nghe chuyện này từ nhỏ, nghe tới thuộc, và càng lớn anh càng nghĩ đó là chuyện người già hay thêu dệt cho một món đồ cổ có giá trị. Anh không nói ra trong bữa này, vì có Trâm ở đây, và vì anh biết cha mình coi trọng câu chuyện đó tới mức nào. Nhưng trong đầu anh, một chiếc nanh heo rừng khắc chữ, bọc bạc, giữ mấy chục năm, chắc chắn có người chịu mua với giá không nhỏ. Ý nghĩ đó thoáng qua rồi anh gạt đi, ít nhất là trong lúc này.
Trâm lại hỏi:
- Ông thần ở đâu hả ông nội? Con có gặp được không?
- Thần ở trong rừng sâu, chỗ người ta không nên tới. Con còn nhỏ, con chỉ cần nhớ là rừng này có những chỗ phải để yên, có những ơn phải nhớ. Mai mốt lớn lên, nếu con đeo chiếc nanh này, con sẽ hiểu thêm.
- Con cũng được đeo hả ông?
- Nếu tới đời con mà nhà mình còn giữ được lệ, thì con sẽ là người nghe kể lại từ đầu, như bữa nay.
Con bé gật đầu rất nghiêm túc, như vừa nhận một việc quan trọng. Lượm nhìn cháu, thấy trong mắt nó có cái tò mò trong sáng mà người lớn đã mất từ lâu. Ông mong con bé nhớ được bữa tối này, nhớ bếp lửa này, nhớ câu chuyện ba đời này, dù sau này nó sống ở thị trấn hay đi xa hơn nữa.
Trời càng khuya, tiếng ếch nhái ngoài kinh càng rộ. Toàn đứng dậy, nói phải chở Trâm về thị trấn để mai còn đi học. Trâm ôm ông nội, dặn ông giữ sức khỏe, hứa cuối tuần sau lại về. Ghe máy nổ nhỏ ở bến, ánh đèn ghe rạch một vệt sáng trên mặt kinh rồi xa dần về hướng thị trấn U Minh. Tiếng máy nhỏ dần, nhỏ dần, rồi mất hẳn trong tiếng nước và tiếng côn trùng.
Lượm ở lại một mình với căn nhà. Ông dọn dẹp chén đũa, tắt bớt đèn, rồi ngồi lặng ở hiên một lúc. Căn nhà sau khi có trẻ con rồi vắng trẻ con, tự nhiên nghe rộng và lạnh hơn. Vện nằm dưới chân ông, thỉnh thoảng ngẩng đầu nghe tiếng động lạ rồi lại nằm xuống.
Ông đứng dậy, đi vào gian giữa, mở chiếc hộp gỗ cũ cất dưới bàn thờ. Hộp làm bằng gỗ dầu, nắp đã mòn, bên trong lót một lớp vải đỏ đã bạc màu. Trong hộp không có gì quý giá theo kiểu người ta hay nghĩ: vài tấm ảnh đen trắng, một ít giấy tờ cũ, và một khoảng trống vừa đúng chỗ chiếc nanh vẫn nằm khi chủ nhân của nó ngủ.
Ông cầm lên tấm ảnh trên cùng. Ảnh chụp ông nội Kỉnh hồi còn trẻ hơn ông bây giờ, đứng trước một căn lán trong rừng, áo bà ba sẫm màu, tay cầm cây dao rừng. Trước ngực, ông đeo chính chiếc nanh này, phần bạc bọc gốc nanh sáng lên trong ảnh đen trắng một cách rõ ràng. Ông nội nhìn thẳng vào ống kính, mắt sáng, mặt gầy và cứng cỏi.
Lượm nhìn tấm ảnh rất lâu. Ông nhớ năm ông mười tám tuổi, ông nội đã già, ngồi ở đúng hiên nhà này, kể cho ông nghe những chuyện rừng mà ông chưa được phép kể lại hết cho Trâm bữa nay. Ông nhớ bàn tay ông nội run run khi trao lại những lời dặn, nhớ cha Bảy đứng kế bên không nói một lời. Ba đời người, một chiếc nanh, một câu trối.
Trước khi khép hộp, ông còn nhìn thêm một tấm ảnh nữa, nhỏ hơn và đã ố vàng ở mép. Ảnh chụp cha Bảy đứng bên chiếc ghe cũ ở bến kinh, chiếc nanh cũng nằm ngay trước ngực, bàn tay cha đặt hờ lên đó như một thói quen. Cha ông ít chụp ảnh, cả đời chỉ có mấy tấm, tấm nào cũng thấy chiếc nanh. Lượm nhớ ngày cha lâm chung ở bệnh viện huyện năm 2015, hơi thở đã yếu lắm rồi mà tay cha vẫn tìm sợi dây đeo trên cổ ông, nắm chặt một lúc rồi mới buông ra. Cha chỉ nói được một câu, nói rất nhỏ mà ông nghe rõ từng chữ: đeo nó, đừng bao giờ bán. Ông đã gật đầu ngay bên giường bệnh, và từ bữa đó ông chưa từng tháo chiếc nanh ra trừ khi đi ngủ, sáng dậy là đeo lại trước khi bước xuống sàn.
Ông cũng nhớ ông nội từng nói thêm một điều mà bữa nay ông chưa kể cho Trâm. Ông nội nói người giữ nanh không phải là người được hưởng phước một mình, mà là người phải nhớ giùm cả nhà một món nợ. Nợ gì, nợ với ai, ông nội chỉ nói tới đó rồi im, bảo khi nào chiếc nanh tự lên tiếng thì người giữ sẽ biết. Hồi trẻ ông nghe câu đó thì cười thầm, nghĩ người già hay nói vòng vo. Càng già, ông càng thấy câu nói đó không phải chuyện đùa, vì mấy chục năm đeo nanh, ông chưa từng gặp chuyện gì trong rừng mà không thoát được, dù có lần trăn quấn, có lần xuồng lật giữa lung sâu, có lần lạc đường trong đêm mưa. Ông không dám nói đó là nhờ chiếc nanh, nhưng ông cũng không dám nói là không phải.
Ông đặt tấm ảnh lại vào hộp, khép nắp hộp lại ngay ngắn, không nói gì thêm. Ngoài kia, nước nổi vẫn vỗ vào chân cột nhà, đều đều như nhịp thở của rừng trong đêm.
---