HEO LỤC NANH RỪNG U MINH - Chương 4: Lên trạm kiểm lâm
Sáng ngày 19 tháng 9 năm 2025, Trần Văn Lượm chèo xuồng lên Trạm Kiểm lâm Kinh Ba từ rất sớm. Trạm nằm ở cửa rừng, gần chỗ kinh Tám Ngàn Nhỏ gặp con kinh…
Nội dung chương
Sáng ngày 19 tháng 9 năm 2025, Trần Văn Lượm chèo xuồng lên Trạm Kiểm lâm Kinh Ba từ rất sớm.
Trạm nằm ở cửa rừng, gần chỗ kinh Tám Ngàn Nhỏ gặp con kinh lớn, nhà xây cấp bốn, mái tôn đã cũ, trước sân có cột cờ và một bảng gỗ ghi tên trạm. Mấy chiếc ghe máy của kiểm lâm buộc ở bến, phủ bạt, còn ướt sương. Ông cột xuồng, dắt con Vện lên bờ. Vện bữa nay đã trở lại bình thường, chạy loanh quanh sân ngửi mấy gốc cây, nhưng thỉnh thoảng vẫn ngoái về phía rừng sâu.
Trạm trưởng Nguyễn Hoàng Phúc đã có mặt, đang pha trà trong phòng làm việc. Phúc năm nay ba mươi bốn tuổi, người cao, mặt nghiêm, mặc đồng phục kiểm lâm đã bạc màu ở vai vì đi rừng nhiều. Anh biết Lượm từ ngày mới về trạm, và kính ông như kính một người giữ bản đồ sống của vùng rừng này. Thấy ông tới sớm, Phúc kéo ghế mời ngồi, rót trà nóng.
- Chú Lượm lên sớm vậy, có chuyện gì trong rừng hả chú?
- Có chuyện. Tao tới báo một tiếng máy lạ, và một chuyện lạ hơn nữa.
Lượm kể lại hết chuyện chiều hôm qua: ông vào tuyến tràm gần rìa Đất Lính đặt bẫy, giữa trưa chiếc nanh nóng ran, con Vện cúp đuôi nằm bẹp xuống bùn gần một giờ, rừng im bặt, mùi nhựa tràm nồng gắt, mặt nước phẳng lặng. Rồi sau đó từ phía Đất Lính vọng lại tiếng máy nổ trầm và đều, không phải ghe của dân trong vùng.
Ông kể chậm, rõ, không thêm cảm xúc vào lời kể, như cách người đi rừng báo lại dấu vết cho người khác cùng theo dõi. Khi kể tới đoạn chiếc nanh nóng, ông kéo cổ áo cho Phúc coi vệt đỏ còn mờ trên da ngực, đúng hình chiếc nanh.
Phúc nghe rất chăm chú. Anh không cười, không gạt đi. Người làm kiểm lâm ở U Minh Hạ lâu, ai cũng biết phải tôn trọng lệ rừng và kinh nghiệm của thợ săn già, dù khi làm hồ sơ thì vẫn phải dựa vào chứng cứ cụ thể. Anh ghi vào sổ trực ban từng chi tiết: thời gian, vị trí tuyến tràm, hướng tiếng máy, dấu hiệu con chó.
- Chú nói tiếng máy đó, gần đây trạm cũng nghe phong thanh. Có tin đồn một bãi cát chìm cổ trong rừng tràm đang bị dòm ngó. Giá cát xây dựng tăng mấy tháng nay, cát sông ngày càng khó mua, nên có người lùng tới cả cát trong rừng. Nếu họ đưa máy xáng vào theo đường kinh Tám Ngàn Nhỏ thì đúng là họ nhắm vào vùng lõi, gần Đất Lính như chú nói.
- Bãi cát đó nằm ở đâu, mày biết không?
- Chưa xác định được vị trí chính xác, chú. Tin đồn chỉ nói là bãi cát cổ nằm dưới lớp bùn ở vùng trảng thấp trong rừng sâu. Mà vùng đó lại gần Đất Lính, đất có người nằm, dân mình kiêng, kiểm lâm cũng ít vào sâu nếu không có việc.
Lượm gật đầu. Ông đã đoán trước được phần nào câu trả lời này.
Phúc nói thẳng, không vòng vo:
- Khó của trạm là thiếu người, chú cũng biết. Cả trạm có mấy anh em, phải trực, phải tuần tra mấy tuyến kinh. Không có chứng cứ cụ thể, không bắt được quả tang người và máy đang đào, thì trạm không thể tổ chức bắt giữ ai được. Có tin báo của chú, trạm sẽ cho tổ tuần tra đường kinh trong tuần này, đi ban ngày trước để nắm tình hình. Nếu thấy ghe lạ, máy lạ, trạm sẽ ghi nhận và báo lên Hạt Kiểm lâm U Minh Hạ xin tăng cường.
- Tao hiểu. Tao không tới để bắt tụi bay phải đi ngay. Tao tới để có một lời báo cho đàng hoàng, để sau này có chuyện gì thì không ai nói là không biết trước.
- Chú làm vậy là đúng, và trạm cảm ơn chú. Chú để ý giùm trạm đường nước phía kinh Tám Ngàn Nhỏ, vì chú đi tuyến đó thường nhất. Thấy máy lạ, ghe lạ, người lạ, chú báo ngay cho con, đừng tự mình đối đầu. Đám làm ăn phi pháp trong rừng, khi bị dồn, chúng liều lắm.
Lê Minh Đức, kiểm lâm viên trẻ hai mươi sáu tuổi, cấp dưới của Phúc, lúc đó bước vào phòng với tập hồ sơ tuần tra. Đức chào Lượm lễ phép, nghe Phúc tóm tắt lại chuyện tiếng máy lạ thì nói thêm là mấy bữa trước đi tuần ở kinh lớn, anh có thấy một chiếc ghe máy không rõ chủ chạy về hướng Trần Văn Thời lúc trời chạng vạng. Chiếc ghe chở mấy can dầu và bao tải trống, nhưng không có lý do để chặn lại kiểm tra.
Phúc dặn Đức ghi thêm chi tiết đó vào sổ.
Trước khi về, Lượm nói thêm một câu, giọng thấp xuống:
- Còn chuyện chiếc nanh nóng và con chó nằm bẹp, tao kể cho mày nghe vì mày là trạm trưởng, mày cần biết rừng đang báo động theo cách của rừng. Tao đeo chiếc nanh này mười năm, nó chưa từng nóng. Ông nội tao dặn nó là của một ông thần còn sống trong rừng. Tao không bắt mày tin, nhưng nếu rừng đã báo, thì chuyện sắp tới không nhỏ đâu.
Phúc im lặng một lúc rồi gật đầu.
- Con ghi nhận hết, chú. Phần nào là chứng cứ, trạm làm theo chứng cứ. Phần nào là kinh nghiệm của chú, con tôn trọng và sẽ để ý. Hai phần đó, trạm cần cả hai.
Lời nói đó làm Lượm thấy nhẹ lòng phần nào. Ông không cần ai tin hết mọi chuyện của ông nội để lại, ông chỉ cần người có trách nhiệm không coi thường dấu hiệu của rừng.
Trên đường về, ông ghé quán nước đầu kinh. Quán là một chòi lá nhỏ ở ngã ba kinh, bán nước trà, cà phê, thuốc lá và ít đồ ăn sáng cho dân đi ghe. Bà chủ quán quen mặt ông, rót cho ông ly trà đá, hỏi chuyện đi rừng mùa nước nổi. Câu chuyện vòng vo một lúc rồi bà hạ giọng, nói một tin mà bà nghe được từ mấy người chạy ghe:
- Mấy bữa nay có người ở huyện Trần Văn Thời đang gom người đi làm ăn trong rừng đó chú Lượm. Nghe nói là một chủ bãi vật liệu, có tiền, đang cần người biết lái xáng, biết chạy ghe, trả công cao, làm ban đêm. Người ta hỏi làm gì thì họ chỉ nói là đi khảo sát bãi bồi, mà khảo sát gì ban đêm, nghe là biết không phải chuyện đàng hoàng.
- Người chủ đó tên gì, bà biết không?
- Nghe loáng thoáng họ Đỗ, dân làm cát. Tui không biết rõ mặt. Mà chú đi rừng cẩn thận, đám người lạ vào rừng mùa này, tránh được thì tránh.
Ông uống hết ly trà, trả tiền, không hỏi thêm. Tin ở quán nước thường nửa thật nửa đồn, nhưng khi nó trùng với tiếng máy lạ phía Đất Lính và chiếc nanh nóng ran trên ngực ông, thì phần thật trong đó đã đủ để ông phải để tâm.
Chiều đó về nhà, ông kể lại cho mình nghe từng chi tiết, sắp xếp lại như người thợ săn sắp xếp dấu vết trên một tuyến đường. Đó là chiếc nanh nóng lần đầu, chó nằm bẹp, tiếng máy lạ, tin đồn bãi cát chìm, chủ bãi vật liệu ở Trần Văn Thời gom người làm ban đêm. Tất cả đều chỉ về một hướng: có người đang đưa máy vào rừng, nhắm tới vùng đất gần Đất Lính, và họ sẽ không dừng lại vì kiêng cữ của dân địa phương.
Ông chuẩn bị sẵn đồ đi rừng, kiểm tra lại xuồng, thêm dầu cho đèn pin, như một thói quen trước những ngày rừng động.
Tối đó, khi ông vừa dọn cơm ra hiên, con Vện bỗng đứng bật dậy, tai dựng, nhìn chằm chằm ra mặt kinh tối đen trước nhà. Ông tắt đèn, đứng yên nghe ngóng.
Một chiếc ghe máy lạ tắt hết đèn, chạy chậm qua bến nhà ông, máy nổ rất nhỏ, gần như chỉ là tiếng rì rì trên mặt nước. Trên ghe có bóng mấy người ngồi im, và một khối lớn phủ bạt ở giữa ghe. Ghe không dừng, không chào, chạy thẳng về hướng kinh Tám Ngàn Nhỏ rồi mất hút trong bóng tối và tiếng nước vỗ.
Đêm đó ông ngủ không yên. Không phải vì sợ, mà vì đầu óc người đi rừng khi đã ngửi thấy dấu hiệu thì không chịu nghỉ. Ông nằm nghe tiếng nước vỗ vào chân cột, nghe tiếng ghe máy lạ đã tắt từ lâu mà như còn vang trong tai, nghe tiếng Vện thỉnh thoảng trở mình ở hiên. Ông nghĩ tới Đất Lính, tới hố bom cũ mà ông chưa từng dám bước sâu vào, tới lời người già nói đất có người nằm thì phải để yên. Ông nghĩ tới đám người sắp vào rừng với máy móc và tiền công ban đêm, những người từ nơi khác tới, không biết lệ rừng, không biết sợ đất thiêng, chỉ biết giá cát đang tăng từng ngày.
Ông cũng nghĩ tới trách nhiệm của mình. Ông không phải kiểm lâm, không có quyền bắt ai, không có súng, không có biên bản. Ông chỉ là một thợ săn già sáu mươi tám tuổi, với một con xuồng ba lá, một con chó, và một chiếc nanh lạnh ngắt trên cổ. Nhưng ông là người của rừng này, là đời thứ ba của họ Trần ở đất này, là người đã được rừng báo điềm bằng chính chiếc nanh của ông nội để lại. Nếu ông im lặng, nếu ông coi như không biết, thì sau này có chuyện gì xảy ra ở Đất Lính, ông sẽ không còn mặt mũi nào nhìn lên bàn thờ ông nội và cha mình nữa.
Sáng mai, ông tự nhủ, nếu tổ tuần tra chưa đi, ông sẽ tự mình để ý đường nước phía kinh Tám Ngàn Nhỏ kỹ hơn. Không đối đầu, như Phúc đã dặn, chỉ quan sát và báo lại. Nhưng quan sát ở vùng rừng này, vào mùa nước nổi này, chưa bao giờ là việc an toàn cả. Người ta có thể thấy những thứ mà người ta ước gì mình chưa từng thấy, và nghe những âm thanh mà sau đó cả đời không quên được.
Ông trở mình, tay chạm vào chiếc nanh qua lớp áo ngủ. Nó lạnh ngắt, yên lặng, như đang chờ đợi cùng ông. Ngoài kia, mặt kinh tối đen, và đâu đó rất xa về hướng rừng sâu, một đêm làm ăn phi pháp có lẽ đang bắt đầu.
Chiếc nanh trên ngực ông vẫn lạnh, nhưng bàn tay ông nắm chặt mép bàn từ hồi tối, tới lúc này mới từ từ buông ra trong bóng tối.
---