HEO LỤC NANH RỪNG U MINH - Chương 6: Ba trăm triệu
Tối ngày 23 tháng 9 năm 2025, Trần Văn Toàn về nhà cha ăn cơm với một tin mà anh giữ trong bụng suốt từ buổi chiều. Bữa cơm chỉ có hai cha con và con Vện…
Nội dung chương
Tối ngày 23 tháng 9 năm 2025, Trần Văn Toàn về nhà cha ăn cơm với một tin mà anh giữ trong bụng suốt từ buổi chiều.
Bữa cơm chỉ có hai cha con và con Vện nằm dưới sàn chờ phần của nó. Lượm nấu cá rô đồng kho tiêu, canh chua bông so đũa, những món Toàn thích từ nhỏ. Toàn ăn được nửa bữa, cứ nhìn chiếc nanh trên cổ cha rồi lại nhìn xuống chén cơm, như người đang cân nhắc cách mở lời cho khéo.
Cuối cùng anh nói:
- Cha, con có chuyện này muốn bàn với cha. Có người quen của con ở thị trấn, làm nghề mua đồ cổ, ảnh nghe con kể về chiếc nanh của nhà mình. Ảnh nói nếu cha chịu bán, ảnh trả ba trăm triệu, tiền mặt ngay, không kỳ kèo.
Lượm ngừng đũa.
- Mày kể chuyện chiếc nanh nhà mình cho người lạ nghe hả?
- Con chỉ nói sơ thôi, lúc ngồi uống cà phê người ta hỏi đồ cổ trong vùng. Cha đừng giận. Ba trăm triệu đó cha. Nhà mình dột mấy chỗ, ghe của con cũng cũ, cha thì lớn tuổi rồi. Bán một chiếc nanh, nhà sửa lại đàng hoàng, cha có tiền dưỡng già, con cũng đỡ lo. Cha giữ chiếc nanh trên cổ thì được gì đâu, nó có nuôi cha ngày nào đâu.
Giọng Toàn càng nói càng nhanh, như sợ cha cắt ngang thì mình không nói hết được những lý lẽ đã chuẩn bị sẵn từ trước. Anh nói về mái nhà dột mỗi mùa mưa, về chiếc ghe máy đã sửa hai lần trong năm nay, về tiền học cho Trâm, về việc cha đã sáu mươi tám tuổi mà vẫn phải chèo xuồng vào rừng bẫy trăn từng ngày. Mỗi lý lẽ đều đúng theo kiểu tính toán của người làm ăn, và chính vì đúng như vậy mà chúng làm Lượm giận dữ khác thường.
Ông đặt mạnh chén cơm xuống mâm.
- Mày nói lại tao nghe coi. Ba trăm triệu?
- Dạ, ba trăm triệu, tiền thiệt, không phải nói chơi.
- Vậy mày định bán cái gì? Mày có biết chiếc nanh này là cái gì không mà mày định giá nó bằng tiền sửa nhà?
- Thì nó là nanh heo rừng khắc bùa, đồ cổ của ông cố để lại. Cổ thì cổ, nhưng cha...
- Nó không phải của riêng tao. Nó cũng không phải của riêng mày. Nó là của ba đời họ Trần này. Ông nội tao đeo nó, cha tao đeo nó, tao đeo nó. Lời trối của ông nội tao không phải chuyện đùa để mày mang ra chợ tính giá.
Tiếng ông không lớn tới mức la hét, nhưng cứng và rõ từng chữ, kiểu giận của người già đã giữ một điều thiêng liêng cả đời mà nay bị chính con ruột của mình coi như món hàng. Toàn cũng nóng mặt, vì anh nghĩ mình lo cho cha, lo cho nhà này, chứ không phải vì tham tiền cho riêng mình.
- Cha sống với quá khứ hoài. Ông cố mất lâu rồi, cha Bảy cũng mất rồi. Người sống phải lo cho người sống chớ cha. Trâm nó cần tiền học thêm, nhà cần sửa, ghe cần thay máy. Cha giữ chiếc nanh, treo nó trên cổ, mai mốt cha có bề gì thì nó cũng nằm trong hộp gỗ, ai đeo nữa? Con đâu có đeo ba cái đồ bùa này đi chở hàng được.
- Mày không đeo thì đời sau đeo. Nhà này chừng nào còn người họ Trần ở đất U Minh này, chừng đó còn người giữ nó.
- Cha nói vậy là cha quyết giữ tới cùng?
- Tao quyết từ ngày cha tao trao nó cho tao ở giường bệnh rồi. Không phải bữa nay tao mới quyết.
Hai cha con nhìn nhau qua mâm cơm đã nguội. Vện nằm dưới sàn ngẩng đầu lên, nhìn người này rồi nhìn người kia, rên nhỏ, như biết trong nhà đang có chuyện không vui. Ngoài hiên, nước nổi vỗ vào chân cột đều đều, không quan tâm tới chuyện của con người.
Toàn đứng dậy trước, giọng đã dịu xuống một chút nhưng vẫn còn ấm ức:
- Thôi, cha không bán thì con không ép. Nhưng con nói thiệt, có ngày cha sẽ thấy giữ nó là khổ cho cả nhà. Mai mốt con không nhắc nữa.
Anh ra bến, nổ máy ghe, đi về thị trấn trong đêm. Tiếng ghe xa dần, bỏ lại Lượm ngồi một mình bên mâm cơm ăn dở. Ông không ăn thêm được nữa. Ông dọn mâm, rửa chén, tay làm theo thói quen mà đầu óc thì ở lại hết ở cuộc cãi nhau vừa rồi.
Đêm đó, một mình trong nhà, ông ngồi bên bàn thờ và kể lại cho mình nghe, như một cách tự giữ mình cho vững, chuyện năm 2015.
Năm đó cha Bảy đã yếu lắm, nằm ở bệnh viện huyện mấy ngày cuối, người gầy rộc đi, hơi thở ngắn. Lượm lúc đó năm mươi tám tuổi, túc trực bên giường, nắm tay cha. Chiếc nanh lúc đó vẫn còn trên cổ cha Bảy, sợi dây đã cũ, phần bạc đã xỉn màu. Cha mở mắt, ra hiệu cho ông cúi xuống gần, rồi tự tay, run run, tháo chiếc nanh ra khỏi cổ mình và đặt vào tay ông.
Cha chỉ nói đúng một câu, nói rất chậm, từng chữ một như sợ con nghe không kịp:
- Đeo nó. Đừng bao giờ bán.
Nói xong câu đó, cha nhắm mắt lại, và không còn nói thêm câu nào rõ ràng nữa. Hai ngày sau cha mất. Lượm đeo chiếc nanh từ ngày đó, đeo như đeo một lời hứa đã nói ngay trước mặt người sắp chết. Đối với ông, bán chiếc nanh không phải là bán một món đồ cổ. Bán nó là nuốt lời hứa với cha mình, là chối bỏ lời trối của ông nội mình. Nó còn là cắt đứt sợi dây nối ba đời thợ săn họ Trần với khu rừng này và với món nợ ân tình mà ông chưa hiểu hết nhưng chưa bao giờ dám coi thường.
Ông đứng dậy, đeo lại chiếc nanh ngay ngắn trước ngực, dù đã tới giờ ngủ, vì bữa nay ông muốn cảm thấy nó ở đó, lạnh ngắt và quen thuộc, như một lời nhắc nhở. Ông chạm tay lên nó, nói với bóng mình in trên vách lá trong ánh đèn dầu:
- Nanh còn trên cổ tao ngày nào, rừng còn yên ngày đó.
Câu nói vừa dứt, từ phía đầu kinh xa xa, qua mặt nước tối đen, ông thấy một ánh đèn chớp lên rồi tắt, rồi lại chớp lên. Đó là hướng đoàn ghe lạ đã đi vào rừng hai ngày trước và chưa quay ra. Đèn của chúng lại sáng lên trong đêm, ở sâu trong rừng, nơi đáng lẽ giờ này chỉ có bóng tối và tiếng nước nổi.
Lượm đứng yên ở hiên nhà rất lâu, nhìn ánh đèn xa đó tắt hẳn, trong lòng biết rõ cuộc cãi nhau với con trai mình bữa nay chỉ là chuyện nhỏ. Chuyện lớn đang ở trong rừng, đang sáng đèn trong đêm, đang tiến từng ngày một về phía Đất Lính, và số tiền ba trăm triệu kia, dù lớn tới đâu với một gia đình như nhà ông, cũng không mua được sự yên ổn sắp bị đánh mất đó.
Ông nghĩ về Toàn, và cơn giận trong ông dần nhường chỗ cho một nỗi buồn quen thuộc của người làm cha ở vùng này. Toàn không phải đứa con bất hiếu. Nó lo cho nhà thiệt, nó tính chuyện sửa nhà, thay máy ghe, lo cho con gái nó học hành, toàn là chuyện phải lo của một người đàn ông bốn mươi tuổi đang gánh gia đình. Nó chỉ khác ông ở một chỗ: nó lớn lên trong thời mà mọi thứ đều tính được bằng tiền, kể cả đồ gia truyền, kể cả lời trối của người chết. Ông không trách nó được hết, vì chính ông cũng chưa từng kể cho nó nghe đầy đủ chiếc nanh này từ đâu ra. Ông chưa kể vì sao ông nội lại gọi nó là của một ông thần còn sống, và vì sao cả nhà này phải nhớ ơn tới ba đời chưa hết. Có những chuyện ông giữ trong bụng quá lâu, tới mức con ông tưởng đó chỉ là chuyện mê tín của người già.
Ông tự nhủ, có lẽ đã tới lúc phải kể hết cho Toàn nghe, không phải bằng một cuộc cãi nhau qua mâm cơm. Phải kể bằng một chuyến đi rừng, để nó tự thấy, tự nghe, tự hiểu vì sao Đất Lính không phải là một bãi đất trống để người ta muốn làm gì thì làm. Nhưng ông cũng biết, Toàn cứng đầu giống ông hồi trẻ, lời nói suông khó mà lay chuyển được nó. Phải có một sự việc đủ lớn, đủ rõ ràng tới mức nó không còn chối được, thì nó mới chịu thay đổi cách nhìn về chiếc nanh và về khu rừng này.
Ngoài sân, con Vện bỗng sủa lên một tiếng ngắn về phía mặt kinh rồi im bặt. Không có ghe nào qua, không có người nào tới. Chỉ có nước nổi, mỗi ngày một cao hơn, đang dâng lên quanh căn nhà và quanh cả khu rừng, như một vòng vây chậm chạp mà không ai ngăn được. Mùa nước năm nay, ông có cảm giác, sẽ không trôi qua yên lành như những mùa nước trước. Nó mang theo ghe lạ, máy lạ, tiền cát, và một cuộc cãi nhau ngay trong nhà mình, tất cả cùng tới trong vòng chưa đầy mười ngày. Và đó mới chỉ là bắt đầu, khi nhóm người trong rừng còn chưa đào xuống tới lớp đất mà chúng thật sự tìm kiếm.
Tiếng dao mài trên đá nghe đều trong đêm, làm con Vện yên tâm nằm xuống ngủ lại, và làm chính ông cũng bình tĩnh lại phần nào sau một buổi tối nhiều chuyện buồn.
Ông vào nhà, không ngủ ngay, mà ngồi mài lại con dao rừng trên hòn đá mài đặt ở góc hiên. Ông mài từng nhịp chậm và đều, như ông nội và cha ông vẫn làm trước mỗi chuyến vào rừng sâu có chuyện chẳng lành đang chờ ở phía trước mà chưa ai trong xóm này lường hết được mức độ của nó trong những ngày sắp tới đây.
---