HEO LỤC NANH RỪNG U MINH - Chương 8: Ông Heo Sáu Nanh
Chiều ngày 27 tháng 9 năm 2025, Trần Văn Lượm sang nhà bạn già Phạm Văn Tám ở cùng ấp Kinh Ba. Nhà Tám Rắn nằm cách nhà ông một đoạn kinh ngắn, cũng là…
Nội dung chương
Chiều ngày 27 tháng 9 năm 2025, Trần Văn Lượm sang nhà bạn già Phạm Văn Tám ở cùng ấp Kinh Ba.
Nhà Tám Rắn nằm cách nhà ông một đoạn kinh ngắn, cũng là nhà sàn sát mé nước, trước sân phơi đầy lọp tre và lưới. Phạm Văn Tám, mà dân trong ấp gọi là Tám Rắn vì hồi trẻ bắt rắn giỏi không thua gì bắt trăn, năm nay sáu mươi lăm tuổi, là bạn săn nối khố của Lượm từ thời trai trẻ. Hai người đã cùng nhau vào rừng, cùng nhau ngủ lán, cùng nhau thoát chết trong mấy mùa nước lớn. Mấy năm gần đây chân Tám yếu đi, đi rừng xa không nổi nữa, ở nhà đan lọp và sửa bẫy cho bà con trong ấp, nhưng đầu óc và trí nhớ về rừng thì còn minh mẫn hơn nhiều người trẻ.
Lượm tới lúc Tám đang ngồi ở hiên đan một chiếc lọp mới, tay đưa nan tre thoăn thoắt dù mắt đã hơi mờ. Thấy bạn tới với vẻ mặt không như mọi bữa, Tám đặt lọp xuống, rót trà, kéo ghế.
- Mày qua có chuyện gì? Mặt mày bữa nay lạ lắm.
- Tao có chuyện muốn hỏi mày, chuyện cũ. Và có chuyện mới cần kể cho mày nghe trước.
Lượm kể lại hết: đoàn ghe của Hùng vào rừng, lán tạm bên lung cạn mà ông đã tận mắt thấy, hướng đào thẳng về phía Đất Lính. Ông kể cả vật dài bọc vải giống súng ở góc lán, chiếc nanh nóng ran hôm ở tuyến tràm, con Vện nằm bẹp gần một giờ, và vệt sóng dài như lưng con vật khổng lồ lướt song song với xuồng của ông trên mặt Lung Sậy.
Tám nghe mà không ngắt lời một câu nào. Trà trong ấm đã nguội mà ông cũng không rót thêm. Khi Lượm kể xong, Tám im lặng rất lâu, nhìn ra mặt kinh trước nhà, rồi mới nói, giọng chậm lại hẳn:
- Mày thấy vệt sóng đó ở Lung Sậy, thì tao không còn nghi ngờ gì nữa. Nó còn đó. Nó vẫn còn canh ở đó.
- Nó là con gì, mày nói rõ cho tao nghe. Đừng kể kiểu úp mở như kể cho con nít.
Tám gật đầu, rồi bắt đầu kể truyền khẩu của dân U Minh, thứ truyền khẩu mà ông đã nghe từ cha mình, cha mình nghe từ ông nội mình, truyền qua mấy đời thợ săn trong vùng này.
Trong rừng sâu U Minh Hạ, từ thời ông cố của những người già nhất bây giờ còn sống, đã có một con heo rừng sống cô độc, lớn khác thường, sống lâu tới mức không ai tính được tuổi của nó. Dân quanh vùng kính gọi nó là Ông Heo Sáu Nanh. Gọi là sáu nanh vì nó có sáu chiếc nanh: mỗi bên hàm dưới có hai chiếc dài cong, mỗi bên hàm trên có một chiếc mọc ngược đâm thủng hàm trồi lên gần mắt. Lưng nó cọ vào thân cây dầu, cây tràm qua nhiều năm tháng, nhựa cây kết với đất cát thành một lớp giáp dày hàng tấc, cứng như đá. Người xưa nói dao chém vào lớp giáp đó thì tóe lửa, súng săn bắn vào thì đạn bật ra, không vũ khí nào của con người làm nó bị thương được.
- Chuyện đó là truyền khẩu, hay có người thấy thiệt?
Lượm hỏi.
- Truyền khẩu thì cũng từ người thấy thiệt mà ra chớ mày. Ông cố của tao từng thấy nó một lần ở bìa Đất Lính, về kể lại là chó săn của ổng, bốn con, con nào cũng dữ, vậy mà cùng một lúc cúp đuôi nằm bẹp xuống đất hết, không con nào dám sủa. Rừng bữa đó im bặt, mặt đầm phẳng lặng, rồi một cái lưng đen như tảng đá trồi lên khỏi mặt nước, đi một vòng rồi lặn xuống. Ổng về nhà, dặn con cháu đời đời không được vào Đất Lính đào bới gì hết.
Tám nói tiếp về Đất Lính. Theo lời người xưa, từ sau năm 1972, Ông Heo canh giữ trảng đất đó. Năm 1972, trong thời chiến tranh, một chốt du kích đóng ở trảng đất đó bị bom vùi trong một trận oanh tạc lớn. Cả chốt, hai mươi bảy người, không ai sống sót, hài cốt còn nằm trong hố bom từ đó tới nay, chưa ai dám động vào, chưa ai đưa về được. Dân quanh vùng gọi đó là đất có người nằm, đi qua phải kiêng, huống chi là đào. Và Ông Heo, không biết vì sao, từ năm đó cứ quanh quẩn ở Lung Sậy sát Đất Lính, canh giữ nơi yên nghỉ của những người lính đó như một lệ mà chỉ mình nó hiểu.
Lượm nghe tới con số hai mươi bảy thì ngồi thẳng lên. Ông đã nghe loáng thoáng chuyện chốt du kích năm xưa từ người già trong ấp, nhưng chưa từng nghe ai nói rõ con số người như Tám bữa nay.
- Hai mươi bảy người, mày chắc con số đó không?
- Tao nghe cha tao nói đúng con số đó, cha tao nghe từ người trong vùng thời đó. Hai mươi bảy. Không thiếu một người nào trong lời kể. Tao không có giấy tờ gì chứng minh, nhưng người xưa truyền khẩu, con số người chết họ nhớ kỹ lắm, không dám nói sai.
Ông im lặng, tay vô thức chạm vào chiếc nanh trước ngực. Trong đầu ông, một ý nghĩ mà ông đã tránh nghĩ tới mấy ngày nay, nay hiện ra rõ ràng hơn: chiếc nanh trên cổ ông là nanh heo rừng, dài hai mươi hai phân, gãy ở chân nanh, được ông nội nhặt trong rừng năm 1975. Nếu trong rừng này thật sự có một con heo rừng sáu nanh sống từ thời ông cố, và ông nội ông từng gặp nó trong rừng thời chiến tranh, thì chiếc nanh này và con heo đó, liệu có phải là một câu chuyện hay không. Ông nghĩ tới đó rồi dừng lại, không nói ra điều mình đang nghĩ cho Tám nghe, vì chính ông cũng chưa dám tin, và vì có những chuyện nói ra sớm quá sẽ làm người nghe hoang mang mà không giải quyết được gì.
Tám như đoán được phần nào ý nghĩ của bạn, nhưng ông không hỏi về chiếc nanh. Ông chỉ nói thêm một lệ cũ của dân U Minh mà cha ông đã dặn:
- Kẻ đào đất có người nằm thì đất sẽ không tha. Đất này không phải đất trống. Đào lên là đánh thức cả người nằm dưới đó lẫn ông Heo đang canh ở trên. Tao nói thiệt với mày, đám người của thằng Hùng đó, tụi nó không biết tụi nó đang đào vào cái gì đâu. Tụi nó tưởng là bãi cát, mà dưới bãi cát đó là hai mươi bảy con người.
Trời đã tối dần khi câu chuyện kết thúc. Hai người bạn già ngồi yên ở hiên, nhìn mặt kinh tối lại, nghe tiếng nước nổi và tiếng côn trùng. Bao nhiêu năm đi rừng cùng nhau, họ đã chứng kiến nhiều chuyện lạ, nhưng chuyện lần này, cả hai đều cảm thấy, lớn hơn mọi chuyện trước đây cộng lại. Vì nó không chỉ là chuyện của thú rừng, mà là chuyện của người chết, của đất thiêng, và của lòng tham đang đi thẳng vào đó bằng máy móc hiện đại.
Trước khi Lượm về, Tám đứng dậy theo ra tới bến, nắm chặt tay bạn, tay ông già sáu mươi lăm tuổi run nhẹ vì tuổi tác nhưng giọng thì chắc:
- Mày nghe tao dặn một câu này thôi. Đất Lính có người nằm. Tụi nó đào lên là đánh thức cả lính lẫn ông Heo. Mày có làm gì thì làm, đừng đi một mình vào đó ban đêm. Có chuyện gì, kêu tao, dù chân tao yếu, tao cũng chống gậy theo mày được một đoạn.
Trên đường sang nhà Tám, Lượm đã nghĩ ngợi nhiều về việc có nên kể hết chuyện vệt sóng ở Lung Sậy hay không. Chuyện rừng lạ, kể cho người ngoài thì dễ bị cười là già rồi sinh hoang tưởng. Nhưng Tám không phải người ngoài. Tám là người cùng ông lội rừng từ năm mười mấy tuổi, cùng ông chứng kiến một mùa nước lớn cuốn trôi cả một dãy lán, cùng ông chôn cất mấy người bạn săn chết trong rừng qua nhiều năm. Nếu trên đời này còn một người nghe chuyện Ông Heo mà không cười, thì đó là Tám. Và quả nhiên, nghe xong, Tám không cười một tiếng nào. Ông chỉ im lặng, và sự im lặng của một người bạn già hiểu rừng như Tám, đối với Lượm, đáng tin hơn mọi lời bàn tán ở quán nước đầu kinh cộng lại.
Tám còn kể thêm một chi tiết mà Lượm chưa từng nghe ai nhắc tới. Ông nói ngày xưa, thợ săn trong vùng có một lệ bất thành văn: khi vào gần Đất Lính mà thấy chó săn của mình bỗng nằm bẹp xuống đất cả đàn, thì phải quay ra ngay, dù hôm đó chưa được con mồi nào, dù phải về tay không. Ai cố ở lại, người xưa nói, sẽ nghe thấy những tiếng động không nên nghe trong trảng đất đó, và sẽ mang cái nặng nề đó về nhà suốt nhiều ngày không hết. Lượm nghe tới đó thì nhớ lại buổi trưa ngày mười tám, nhớ con Vện nằm bẹp trong bùn gần một giờ, nhớ rừng im bặt tuyệt đối quanh mình, và thấy sống lưng lạnh đi một chút. Những gì ông đã trải qua, hóa ra người xưa ở vùng này đã trải qua từ lâu rồi, và đã biến nó thành lệ để dặn lại con cháu, chỉ tiếc là lệ đó nay chỉ còn mấy người già như ông và Tám là còn nhớ rõ.
Lượm gật đầu, cảm ơn bạn, rồi chèo xuồng về nhà trong ánh trăng non hắt xuống mặt kinh. Chiếc nanh trên ngực ông lạnh ngắt như mọi ngày, nhưng câu chuyện về Ông Heo Sáu Nanh và hai mươi bảy người lính nằm dưới Đất Lính thì cứ ở lại trong đầu ông suốt đường về. Nó nặng trĩu như một gánh nặng mà từ nay ông biết mình sẽ phải mang theo, dù muốn hay không, trong những ngày tháng sắp tới của mùa nước nổi năm nay, khi mọi chuyện còn chưa thật sự bắt đầu.
---