HEO LỤC NANH RỪNG U MINH - Chương 11: Đào trúng hố bom
Đêm hai tháng mười, Lượm quay lại Đất Lính bằng lối mòn cũ mà ban ngày chính ông cũng khó nhận ra nếu không thuộc từng gốc tràm. Nước nổi đã lên cao,…
Nội dung chương
Đêm hai tháng mười, Lượm quay lại Đất Lính bằng lối mòn cũ mà ban ngày chính ông cũng khó nhận ra nếu không thuộc từng gốc tràm. Nước nổi đã lên cao, ngập qua mắt cá, có chỗ tới đầu gối. Ông lội chậm, mỗi bước đều đặt chân xuống bùn trước rồi mới dồn sức, tránh làm nước vỗ thành tiếng. Đèn pin buộc trên trán đã tắt từ bìa rừng. Mắt ông quen bóng tối của rừng tràm từ năm mười tám tuổi, quen tới mức chỉ cần nghe tiếng nước rẽ qua rễ cây là biết phía trước nông hay sâu.
Con Vện không theo. Đêm qua nó đã nằm bẹp ở bến, nhất định không lên xuồng. Đêm nay Lượm không ép nó nữa. Ông đi một mình, dao rừng giắt bên hông, và chiếc nanh trước ngực lạnh ngắt áp vào da như mọi ngày.
Tiếng máy xáng nghe rõ dần khi ông tới gần trảng đất. Nó nổ trầm, đều, thỉnh thoảng nghẹn lại khi gầu cạp phải vật cứng dưới bùn. Xen vào tiếng máy là tiếng người gọi nhau khẽ khàng, tiếng xích sắt va vào thành ghe, tiếng bùn rơi tõm xuống nước. Ánh đèn từ hố đào hắt lên lùm tràm thành một quầng vàng đục, lúc mờ lúc tỏ theo hơi máy.
Lượm dừng lại sau một lùm tràm dày, cách miệng hố vài chục mét. Từ chỗ nấp, ông nhìn thấy gần như toàn bộ công trường lén lút của nhóm cát tặc. Ghe máy đậu sát mép đầm, mũi hướng ra con rạch nhỏ để khi cần là rút ngay. Máy xáng đặt trên sà lan thấp, cần cạp vươn dài vào giữa trảng. Tài Xáng ngồi trên ghế lái, mặt đẫm mồ hôi dưới ánh đèn, hai tay điều khiển cần thành thạo. Hùng Cát đứng ngay mép hố, tay cầm đèn pin lớn, thỉnh thoảng cúi xuống soi vào lòng gầu. Đạt đứng gần máy, nghe tiếng động lạ là ngẩng lên. Sang và Phong khiêng bao, kéo dây, làm những việc nặng nhất mà không nói nhiều.
Đất ở giữa trảng bị khoét thành một hố rộng, miệng loe như cái phễu. Bùn đen và cát xám trộn lẫn nhau, chất thành đống hai bên. Nước trong hố đục ngầu, sủi những bọt nhỏ. Lượm ngửi thấy mùi bùn tanh nặng hơn hẳn những chỗ khác trong rừng. Đó là mùi đất bị chôn kín lâu năm vừa bị mở ra, mùi của một nơi lẽ ra không nên động vào nữa.
Ông nín thở khi cần xáng hạ xuống lần nữa. Gầu cạp ngoạm sâu vào đáy hố, kéo lên nặng trĩu. Cát chảy qua kẽ thép thành dòng. Rồi giữa dòng cát xám, một vật trắng hếu lộ ra, cong và dài, không phải rễ cây. Tiếp theo là một mảnh tròn dẹt, rồi thêm mấy mảnh xương rời rạc rơi lạch cạch xuống tấm tôn hứng cát.
Cả hố đào khựng lại.
Tài tắt bớt ga. Tiếng máy nhỏ xuống, chỉ còn nổ lạch bạch. Phong đang kéo bao bỗng buông tay, lùi lại một bước. Sang đứng im, mắt dán vào những mảnh trắng trên tấm tôn. Đạt là người lên tiếng trước, giọng lắp bắp và khô khốc.
- Anh Hùng, cái này là xương người. Xương người thiệt đó.
Hùng bước tới, dùng mũi giày gạt lớp cát trên mảnh tròn. Đèn pin của hắn soi rõ một hốc tối và đường nứt chạy dọc. Dù Lượm ở xa, ông vẫn nhận ra đó là một phần sọ người. Bao nhiêu năm đi rừng, bao nhiêu lần thấy xương thú, ông không thể lầm. Xương người có màu và có cái lặng lẽ riêng, nhìn một lần là gai sống lưng.
- Xương thì xương, làm tiếp đi.
Giọng Hùng không lớn, nhưng cứng. Hắn nói như nói về một khúc cây mục chắn đường.
Đạt lắc đầu, tay vẫn cầm cờ lê mà run nhẹ.
- Đây là mồ lính đó anh. Người ta nói chốt du kích bị vùi ở đây hồi chiến tranh. Mình đào nữa là động mồ động mả người ta.
- Mày nghe ai nói?
- Cả xóm Kinh Ba ai cũng biết. Hồi chiều Tư Ghe cũng nhắc. Đất này có người nằm.
Hùng quay phắt lại, đèn pin quét qua mặt Đạt làm anh ta nheo mắt.
- Biết thì sao? Họ nằm mấy chục năm rồi. Cát nằm trên mồ họ cũng là cát. Mày đào được cát, tao bán được tiền, nợ trả xong, ai về nhà nấy. Còn đứng đó nói chuyện ma quỷ, tới sáng cũng không đầy ghe.
- Nhưng xương người ta...
- Gom lại.
Hùng chỉ tay về phía mấy bao tải rỗng chất bên ghe.
- Xương cốt gom hết vào bao. Cát riêng, xương riêng. Sáng mai đem vứt xuống đầm sâu, nước cuốn đi, không ai biết. Đứa nào hé miệng ra ngoài, phần tiền của đứa đó mất sạch. Nghe rõ chưa?
Không ai trả lời ngay. Tiếng máy lạch bạch nghe rõ hơn trong khoảng lặng. Tài nhìn xuống lòng hố, rồi nhìn Hùng, cuối cùng gật đầu rất khẽ. Hắn là người nợ tiền ứng trước, Lượm nhớ Phúc từng nói vậy qua lời dân đầu kinh. Kẻ mắc nợ thường khó quay đầu nhất, vì sau lưng hắn không còn đường nào trống.
Phong cúi xuống nhặt một mảnh xương bằng hai ngón tay, như sợ nó nóng. Sang ngăn lại, lấy tấm lá tràm khô lót tay, cẩn thận đặt từng mảnh vào bao. Cách Sang làm khiến Lượm chú ý. Anh ta không vứt, không quăng. Anh ta đặt xuống nhẹ, dù mặt tái đi và miệng mím chặt. Trong nhóm người này, ít nhất còn một người biết sợ trước người chết.
Hùng đứng giám sát, thỉnh thoảng thúc giục.
- Nhanh tay. Đêm nay phải qua lớp đất này. Cát tốt nằm ở dưới. Mấy chục năm không ai động, cát lắng mịn, bán cho lò gạch và dân san nền đều ham.
Gầu xáng lại hạ xuống. Lần này nó kéo lên nhiều xương hơn. Có chiếc xương dài còn nguyên hình, có mảnh vụn lẫn trong bùn đen, có vật gì tròn nhỏ như đốt xương. Lượm đếm thầm những bao đã được buộc miệng và kéo sang một bên. Một bao ở cạnh ghe. Một bao nữa dựa vào gốc tràm. Hai bao đang mở miệng chờ. Ít nhất bốn bao đã đầy hoặc gần đầy, chưa kể những mảnh còn vương trên tấm tôn và quanh miệng hố.
Bốn bao. Con số đó đập vào đầu ông như búa. Tám Rắn nói chốt du kích có hai mươi bảy người. Ông không biết bốn bao này chứa bao nhiêu phần của họ, cũng không biết lớp đất dưới kia còn giữ lại bao nhiêu. Nhưng ông biết chắc một điều, nhóm người này không đào trúng một ngôi mộ lẻ. Chúng đang mở tung nơi yên nghỉ của cả một chốt người đã chết vì bom đạn, những người không có lấy một nấm mồ tử tế từ năm một chín bảy hai tới nay.
Nắm tay Lượm siết chặt vào thân tràm. Vỏ cây cứa vào da. Ông muốn bước ra, muốn hét lên bắt chúng dừng lại, nhưng lý trí của một thợ săn già giữ chân ông đứng yên. Bên kia có năm người, có máy, có ghe, có thể có cả súng săn mà Phúc từng nhắc. Ông xông ra lúc này chỉ làm chúng tản đi, phi tang nhanh hơn, hoặc tệ hơn là bị bịt miệng ngay trong rừng. Chứng cứ ông đang thấy phải được đưa về trạm kiểm lâm nguyên vẹn, cùng với vị trí từng bao, từng đường rút của chúng.
Ông ép mình ghi nhớ. Bao thứ nhất gần mũi ghe, buộc bằng dây nylon xanh. Bao thứ hai cạnh can dầu. Bao thứ ba và thứ tư dưới tấm bạt, gần đống cát xám. Hố đào giữa trảng, lệch về phía đông của đầm cạn. Đường ghe rút ra theo rạch nhỏ phía nam.
Phong và Sang khiêng bao thứ nhất ra mép đầm. Bao nặng, hai người đi loạng choạng trên bùn. Hùng đi theo, soi đèn xuống mặt nước.
- Kéo ra xa một chút. Chỗ nước sâu ấy. Đổ xuống là xong.
- Bây giờ luôn hả anh? Sang hỏi.
- Sáng mai cũng được. Giờ để đó, đào tiếp đã. Trời sáng mới khó giấu.
Phong đặt bao xuống sát mép nước. Ngay lúc bao chạm vào lớp bùn ướt, chuyện lạ xảy ra. Mặt nước quanh bao bỗng sủi lên hàng loạt bọt đen. Ban đầu chỉ vài bọt nhỏ quanh miệng bao, rồi nhiều dần, như có thứ gì dưới đáy vừa thở ra. Nước không có gió mà gợn thành những vòng tròn lan rộng, chạm vào chân Phong làm anh ta giật mình lùi lại.
- Cái gì vậy?
Tài tắt hẳn máy. Tiếng nổ im bặt khiến rừng càng tối và càng nặng. Mọi người cùng nhìn xuống mép đầm. Bọt đen vẫn nổi lên, vỡ ra, để lại mùi tanh nồng nặc hơn. Sang buông sợi dây trong tay, lùi lên bờ khô. Đạt làm dấu thánh giá vụng về dù ông không rõ anh ta có theo đạo hay không. Chỉ có Hùng là cố đứng yên, đèn pin lia qua lia lại trên mặt nước.
- Bùn sủi khí thôi. Đất chôn lâu, khí độc nó thoát ra. Tụi bây đừng có tự hù nhau.
- Khí gì mà nổi đúng chỗ cái bao? Phong hỏi, giọng đã lạc.
- Tao nói làm tiếp.
Hùng quát, nhưng tiếng quát không còn chắc như trước. Hắn ra hiệu cho Tài nổ máy. Tài đề mấy lần máy mới nổ, âm thanh khàn và giật cục. Gầu xáng lại chuyển động, song nhịp làm việc đã khác. Người khiêng bao đi vòng tránh mép nước. Người đứng gần hố liên tục ngó xuống đầm. Sự sợ hãi mà Hùng cố đè xuống bằng tiền đã len vào từng động tác.
Lượm vẫn nấp sau lùm tràm. Lưng áo ông ướt đẫm mồ hôi dù đêm rừng lạnh. Ông đã thấy đủ. Thậm chí ông thấy nhiều hơn những gì cần để báo kiểm lâm, nhiều hơn những gì một người già nên phải chứng kiến một mình. Ông cần rút ra trước khi chúng đổi ca hoặc cho người đi tuần quanh trảng.
Ông lùi từng bước, giữ thân người thấp dưới tán tràm. Chân ông tìm lại những chỗ bùn mình đã giẫm khi vào, tránh bẻ cành khô. Được một đoạn, ông quay đầu nhìn lần cuối. Ánh đèn hố đào vẫn vàng đục. Tiếng máy lại đều. Chiếc bao ở mép đầm nằm im như một khối đen, và quanh nó mặt nước vẫn thỉnh thoảng nổi lên một bọt khí chậm chạp.
Chính lúc ấy, chiếc nanh trên cổ Lượm bắt đầu ấm lên.
Không phải cái ấm của da thịt sau khi lội rừng. Nó nóng dần từ mặt bạc bọc ngoài, xuyên qua lớp áo, áp thẳng vào xương ức. Ban đầu âm ấm, rồi rõ rệt hơn theo từng bước ông rời khỏi trảng. Lượm đưa tay nắm lấy nó qua áo. Lòng bàn tay cảm nhận được sức nóng đang tăng, không tới mức bỏng như giữa trưa ngày mười tám tháng chín, nhưng đủ để ông hiểu điềm báo này không còn ở xa nữa. Nó đang ở ngay sau lưng ông, trong lòng hố bom vừa bị mở tung.
Ông đi nhanh hơn khi đã ra khỏi tầm đèn, vẫn cố không gây tiếng động. Nước vỗ nhẹ vào ống chân. Rừng im lặng một cách khác thường, không tiếng dế, không tiếng cá quẫy, chỉ có tiếng máy xáng xa dần và nhịp tim của chính ông.
Lượm biết mình vừa chứng kiến chuyện không thể quay lại được nữa. Hài cốt đã bị đào lên, lời ra lệnh phi tang đã nói ra, và Đất Lính đã bị động tới tận nơi người chết nằm. Từ giây phút này, dù kiểm lâm có tới kịp hay không, rừng U Minh sẽ không còn yên như trước.
---