HEO LỤC NANH RỪNG U MINH - Chương 13: Phục kích
Đêm ba tháng mười, tổ kiểm lâm xuất phát từ trạm Kinh Ba khi trời vừa sập tối. Hai xuồng máy chạy chậm trên kinh Tám Ngàn Nhỏ, đèn tắt, người ngồi thấp…
Nội dung chương
Đêm ba tháng mười, tổ kiểm lâm xuất phát từ trạm Kinh Ba khi trời vừa sập tối. Hai xuồng máy chạy chậm trên kinh Tám Ngàn Nhỏ, đèn tắt, người ngồi thấp dưới thành xuồng. Phúc chỉ huy chung, đi xuồng đầu cùng Lượm. Đức và một kiểm lâm viên đi xuồng sau. Hai người tăng cường từ hạt chờ sẵn ở điểm hẹn đầu rạch, nhập vào đội hình không một lời thừa.
Càng vào sâu, rừng càng tối. Mây che trăng, ngọn tràm hai bên kinh đen như những bức vách. Nước nổi mùa này đã ngập hết bờ đất, chỉ còn rễ cây và những gò cao nhô lên lác đác. Lượm ngồi ở mũi xuồng đầu, tay thỉnh thoảng ra hiệu giảm tốc hoặc đổi hướng. Ông thuộc từng khúc quanh, từng chỗ nước xoáy ngầm, từng hàng tràm bị đổ chắn lối từ mùa trước.
Tới miệng rạch nhỏ phía nam, Phúc ra hiệu tắt máy. Hai xuồng trôi theo quán tính một đoạn dài trong im lặng. Tiếng mái chèo khua nước rất nhẹ. Từ đây, tổ sẽ lội bộ đoạn cuối, men theo hàng tràm bên phải như Lượm đã vạch trên bản đồ buổi sáng.
Nước lạnh tới thắt lưng. Bùn dưới chân mềm và hút, mỗi bước rút lên đều nặng. Lượm đi đầu, chân dò trước, tay vịn rễ cây. Ông tránh những khoảng nước phẳng lặng bất thường, tránh cả những chỗ bùn không có dấu chân thú. Phúc đi ngay sau, bộ đàm đã chuyển sang tai nghe, đèn pin bọc vải đen chỉ để dùng khi thật cần. Đức và người còn lại giữ khoảng cách phía sau, một người nữa ở lại trông xuồng và chặn đường rút ra rạch.
Chưa tới lán cát tặc, Lượm đã ngửi thấy mùi dầu máy trong gió. Rồi tiếng người vọng lại rất khẽ, tiếng kim loại chạm nhau, tiếng bao tải kéo trên nền đất ướt. Ánh đèn từ hố đào chưa thấy, vì lán và khu làm việc của chúng nằm khuất sau một dải tràm rậm, nhưng ánh sáng hắt lên tán lá thành những vệt vàng nhạt chao động.
Phúc giơ tay. Cả tổ dừng lại, ngồi thụp xuống trong nước tới ngực. Ông nghe tim mình đập mạnh. Trước ngực, chiếc nanh nóng ấm từ chiều vẫn chưa nguội, giờ bắt đầu tăng nhiệt rất chậm, từng chút một, như có ai đang thổi vào tro.
Theo kế hoạch, tổ sẽ chờ tới khi máy xáng nổ và nhóm cát tặc bắt đầu đào mới áp sát, bắt quả tang ngay tại hố. Bằng chứng phải rõ ràng, không thể để chúng chối rằng chỉ vào rừng đốn củi hay tìm đất. Phúc nhìn đồng hồ dạ quang, ra hiệu chờ thêm mười phút cho mũi chặn ở rạch vào vị trí.
Nhưng chuyện không diễn ra như kế hoạch.
Từ phía lán bỗng vang lên một tiếng động lạ. Không phải tiếng máy. Là tiếng một vật bằng sắt rơi xuống tôn, leng keng, rồi im bặt. Ngay sau đó, đèn trong lán tắt phụt. Mọi tiếng người cũng tắt theo. Sự im lặng đến quá nhanh và quá đồng loạt để có thể là tình cờ.
- Chúng phát hiện rồi.
Phúc nói gần như không thành tiếng.
Lượm cũng hiểu ngay. Nhóm cát tặc đã bố trí người canh, hoặc chúng nghe thấy một âm thanh nào đó từ phía tổ, hoặc đơn giản là chúng quá quen với việc chạy trốn nên chỉ cần một dấu hiệu nhỏ cũng đủ tản ra theo lối đã chuẩn bị sẵn. Trong bóng tối phía trước, tiếng chân lội nước bì bõm vang lên ở nhiều hướng, rồi tiếng cành tràm gãy, tiếng ghe máy bị đẩy khỏi bờ.
- Mũi hai chặn rạch. Mũi một theo tôi, giữ khoảng cách, không tách lẻ.
Giọng Phúc qua bộ đàm rất khẽ nhưng dứt khoát. Tổ kiểm lâm chuyển từ phục kích sang truy đuổi. Lượm đi cùng Phúc và một kiểm lâm viên, men theo bìa lán. Khi họ tới nơi, lán đã trống. Nồi cơm còn ấm trên bếp tro. Mấy chiếc võng mắc vội chưa thu. Can dầu, bao tải rỗng và một chiếc đèn pin vỡ nằm vương vãi. Máy xáng vẫn ở trên sà lan, phủ bạt một nửa, như thể chúng bỏ chạy giữa chừng khi đang chuẩn bị làm việc.
Một chiếc ghe máy còn đậu ở mép đầm, mũi quay vào bờ. Trên ghe, một người đàn ông ngồi co ro cạnh buồng máy, hai tay giơ lên ngay khi ánh đèn pin đầu tiên bật sáng.
- Tôi không chạy. Tôi chỉ chở thuê thôi. Đừng bắt tôi như tụi nó.
Đó là Dương Văn Tư, người mà dân đầu kinh vẫn gọi Tư Ghe. Mặt anh ta tái nhợt, áo ướt đẫm, chân còn run. Anh ta khai ngay tên mình, nói Hùng và bốn người kia đã chạy vào rừng sâu theo lối mòn phía tây, bỏ lại anh ta vì ghe của anh ta bị mắc cạn và không nổ máy kịp.
Phúc giữ Tư lại cho một kiểm lâm viên trông coi, ra lệnh niêm phong ghe và hiện trường lán, rồi dẫn số người còn lại đuổi theo dấu chân trong bùn về phía tây. Dấu chân còn mới, nước trong từng vết chưa kịp trong lại. Lượm đi theo, vừa đi vừa nhìn xuống mặt bùn để phân biệt dấu của nhóm chạy trốn với dấu cũ của chính họ.
Đường truy đuổi buộc tổ phải băng qua một lung nước rộng. Ban ngày, lung này chỉ là một đầm cạn nối hai trảng đất. Ban đêm, nó đen và sâu hơn vẻ ngoài, mặt nước phẳng lặng tới mức không phản chiếu nổi một vệt sáng nào từ đèn pin đã che vải.
Phúc cân nhắc rất nhanh. Đuổi sâu vào Đất Lính trong đêm, khi đối phương thuộc địa hình lán trại và đã tản ra, là điều nguy hiểm. Nhưng nếu dừng lại ngay, dấu chân sẽ mất và chúng có thể vòng lại hố đào phi tang hài cốt. Anh quyết định qua lung tới bờ bên kia để xác định hướng chạy, rồi mới tính tiếp.
Đức đi ở giữa đội hình. Nước lên tới thắt lưng anh, rồi tới ngực khi bước vào giữa lung. Anh lội chậm, một tay giữ ba lô đựng bộ đàm dự phòng trên cao, một tay dò đường. Lượm đi cách anh vài bước, bỗng thấy Đức khựng lại khác thường.
Không phải vấp. Người vấp thì chúi về trước. Đức đứng sững, toàn thân cứng đờ, như vừa bị một sợi dây vô hình dưới nước giữ chặt.
- Anh Phúc.
Giọng Đức đổi hẳn, cao và nghẹn.
- Có cái gì nắm chân em.
Phúc quay phắt lại.
- Đứng yên. Đừng giãy. Hai người kéo Đức lên.
Lượm và kiểm lâm viên bên cạnh lập tức lao tới, nắm chặt hai tay Đức. Dưới nước, một lực kéo mạnh kéo anh xuống thêm một đoạn ngắn. Nước xoáy quanh thắt lưng anh dù không ai khuấy động. Mặt Đức tái mét, mắt mở lớn, hơi thở dồn dập.
- Nó lạnh lắm. Nó nắm chặt lắm. Kéo em lên, kéo em lên đi.
Ba người cùng dồn sức. Lực ở dưới không buông ngay. Nó giữ cổ chân Đức như một bàn tay có chủ ý, lạnh và dai, không giống rễ cây vướng vào chân. Lượm cảm nhận được qua thân người Đức đang run, qua từng đợt giật xuống nhịp nhàng như có ai ở dưới đáy bùn đang lôi từng chút một.
Rồi bất ngờ, lực kéo buông ra. Đức bật ngửa về phía đồng đội, được kéo lê lên bờ đất cao ở rìa lung. Anh ngồi bệt xuống bùn, thở hổn hển, hai tay ôm lấy cổ chân phải. Phúc bật đèn pin đã tháo vải che, soi thẳng xuống.
Trên cổ chân Đức hằn rõ dấu ngón tay. Năm vết xanh đen in quanh cổ chân, đầu ngón hướng xuống dưới, như dấu của một bàn tay từ dưới nước nắm lên và siết chặt. Vết bầm còn mới, da lạnh ngắt khi Lượm chạm vào thử, lạnh hơn hẳn phần da còn lại trên người anh.
Không ai nói được một câu trọn vẹn trong mấy giây đầu. Kiểm lâm viên đi cùng vô thức lùi khỏi mép nước. Phúc nhìn dấu tay, rồi nhìn mặt lung đen lặng, rồi ra lệnh bằng giọng đã khó nhọc lấy lại bình tĩnh.
- Rút. Rút có trật tự về phía lán. Không ai xuống nước một mình nữa. Giữ hiện trường, giữ người bị giữ, chờ trời sáng vào lại hố đào.
- Còn tụi Hùng? một người hỏi.
- Chúng chạy vào rừng sâu, mình đuổi tiếp trong đêm nay chỉ thêm người gặp nạn. Dấu chân còn đó, sáng mai lần theo. Ưu tiên người của mình và hài cốt ở hố đào.
Lượm đồng ý với quyết định ấy, dù lòng ông nóng như lửa khi nghĩ tới bốn bao xương ở Đất Lính. Nhưng ông đi rừng đủ lâu để biết có những lúc lùi một bước không phải là sợ, mà là giữ mạng cho người sống để còn quay lại làm cho xong việc.
Phúc cho người soi lại cổ chân Đức lần nữa bằng đèn pin và chụp ảnh bằng điện thoại của trạm, dù ảnh trong đêm chỉ ghi được màu bầm và hình dáng các ngón tay một cách mờ nhòe. Anh cũng ghi giờ, ghi vị trí lung nước và lời mô tả đầu tiên của Đức vào sổ tay, như anh vẫn làm với bất cứ hiện trường nào. Thủ tục ấy, giữa rừng tối và sau một chuyện không ai giải thích nổi, lại khiến Lượm thấy vững lòng. Ít nhất dấu vết này sẽ không trôi qua như một câu chuyện kể miệng rồi bị người ta cười trừ vào sáng mai.
Đức ngồi nhìn Phúc ghi chép, bỗng nói khẽ rằng lúc bị nắm, anh không nghe thấy tiếng cá quẫy hay tiếng người lội. Chỉ có cái lạnh đến trước, lạnh từ cổ chân lan lên ống quyển, rồi mới tới lực kéo. Anh nói xong lại im, đưa tay sờ lên những vết bầm như muốn chắc chắn chúng còn ở đó, và rằng mình đã thật sự được kéo lên bờ.
Tổ rút về lán, thay nhau canh Tư Ghe và chiếc ghe máy bị giữ. Đức được băng cổ chân, ngồi trên xuồng, chân gác lên thành, mắt vẫn nhìn chằm chằm xuống mặt nước dù xuồng đã rời lung khá xa. Anh không khóc, không la, chỉ thỉnh thoảng lắc đầu như không tin nổi chuyện vừa xảy ra với chính mình.
Khi xuồng trôi qua đoạn nước tối nhất, Đức mới lên tiếng, hơi thở vẫn còn dốc và đứt quãng.
- Dưới đó không phải tay người sống, anh Phúc ơi. Nó lạnh như tay người chết.
Không ai đáp lại. Trước ngực Lượm, chiếc nanh nóng ran lên một nhịp rồi dịu xuống, và ông nhìn dấu ngón tay xanh đen trên cổ chân chàng kiểm lâm trẻ mà lạnh cả sống lưng.
---