HEO LỤC NANH RỪNG U MINH - Chương 14: Dấu guốc khổng lồ

Sáng bốn tháng mười, trời vừa hửng, đoàn của Phúc đã quay lại hiện trường hố đào ở Đất Lính. Lần này họ đi đông hơn, mang theo máy ảnh, thước đo, túi…

Nội dung chương

Sáng bốn tháng mười, trời vừa hửng, đoàn của Phúc đã quay lại hiện trường hố đào ở Đất Lính. Lần này họ đi đông hơn, mang theo máy ảnh, thước đo, túi niêm phong và cáng vải. Lượm dẫn đường theo lối cũ. Đức cũng đi, cổ chân còn băng một lớp gạc mỏng, bước hơi khập khiễng nhưng nhất quyết không ở lại trạm.

- Em phải tận mắt thấy chỗ đó ban ngày, anh Phúc. Đêm qua em chưa thấy gì ngoài nước đen.

Phúc không cản. Anh chỉ dặn Đức đi giữa đoàn, không lội xuống lung một mình trong bất cứ trường hợp nào.

Hố đào hiện ra dưới ánh sáng ban ngày còn tệ hơn những gì Lượm thấy trong đêm hai tháng mười. Miệng hố nham nhở, rộng như một sân đất bị xới tung. Bùn đen và cát xám trộn lẫn, chất đống lộn xộn. Những bao hài cốt ông đếm được đêm đó không còn đủ ở vị trí cũ. Hai bao vẫn nằm dưới tấm bạt, miệng buộc chặt. Một bao bị kéo dở ra mép đầm, rách một góc. Bao còn lại biến mất, chỉ để lại vệt kéo dài trên bùn hướng về phía nước.

Khắp nơi quanh miệng hố, hài cốt vương vãi lẫn trong bùn đen. Một mảnh xương nằm ngửa trên đống cát, trắng hếu dưới nắng sớm. Một phần hàm còn dính đất. Những mảnh vụn nhỏ hơn cắm nửa chìm nửa nổi trong lớp bùn ướt, nếu không nhìn kỹ sẽ tưởng là rễ cây mục.

Lượm đứng ở mép hố rất lâu không nói. Cơn giận trong ông không ồn ào. Nó đặc lại trong ngực, khiến tay ông run khi cúi xuống định nhặt một mảnh xương lên. Phúc giữ tay ông lại, giọng nhẹ nhưng rõ.

- Chú để nguyên vị trí. Mình phải chụp ảnh, đánh dấu từng chỗ trước. Động vào bây giờ là làm mất dấu vết cho hồ sơ.

Ông rút tay về, gật đầu, dù lòng đau như có ai cào. Ông là thợ săn, quen với cái chết của thú rừng, quen xử lý xác trăn, xác heo bằng tay không. Nhưng trước những mảnh xương người nằm lẫn trong bùn vì bị máy xáng múc lên như cát, ông thấy tay mình không có quyền chạm vào một cách tùy tiện. Họ là người. Họ là lính. Họ phải được đối xử theo đúng nghi thức và đúng pháp luật, không phải theo cơn xúc động của một ông già đứng bên miệng hố.

Đoàn bắt đầu làm việc theo quy trình. Phúc phân công từng người. Người chụp ảnh toàn cảnh. Người cắm thẻ số bên từng vị trí xương. Người ghi chép tọa độ tương đối so với cây dầu già và mép đầm. Đức, dù chân đau, vẫn cầm sổ ghi không sót một chi tiết nào Phúc đọc. Những bao hài cốt còn nguyên được giữ nguyên hiện trạng, không mở ra, chờ chỉ đạo của cấp trên và cơ quan chức năng có thẩm quyền về hài cốt liệt sĩ.

Chính trong lúc ghi chép, Lượm tự trách mình nặng nề nhất.

Giá như ông báo động quyết liệt hơn từ ngày mười tám tháng chín, khi chiếc nanh mới nóng lên lần đầu. Giá như ông không chờ tới khi nghe rõ tiếng máy, không chờ tới khi tận mắt thấy xương. Giá như đêm một tháng mười ông ở lại lâu hơn, hay đêm hai tháng mười ông liều mình bước ra khỏi lùm tràm. Những chữ giá như nối nhau trong đầu ông như một hàng gai. Nhưng ông cũng biết tự trách lúc này không đắp lại được một tấc đất nào. Điều duy nhất còn làm được là giữ cho những gì còn lại không bị mất thêm nữa.

Gần trưa, khi đoàn vòng ra phía đông của miệng hố để kiểm tra vệt kéo bao, một kiểm lâm viên bỗng gọi lớn.

- Anh Phúc, chú Lượm, qua đây coi cái này.

Ngay ở mép miệng hố, trên lớp bùn cứng hơn phía trong, in rõ một dấu guốc khổng lồ.

Dấu guốc in sâu nửa tấc vào bùn, dù lớp bùn đó người giẫm lên chỉ lún nhẹ. Nó rộng bằng bàn tay người lớn xòe ra, chia hai móng rõ rệt, cạnh sắc và còn mới. Nước trong dấu còn đục, chưa kịp lắng trong, chứng tỏ nó được in trong đêm qua, có thể là sau khi tổ kiểm lâm rút đi, hoặc ngay trong lúc hỗn loạn của cuộc phục kích mà không ai để ý.

Mọi người đứng quanh, không ai dám bước gần. Phúc đặt thước đo xuống bên cạnh dấu guốc, chụp nhiều tấm ảnh từ các góc khác nhau. Đức ghi chép mà tay hơi run, không phải vì sợ như đêm qua, mà vì kích thước của dấu chân trước mặt vượt khỏi mọi con heo rừng anh từng thấy trong hồ sơ của trạm.

Lượm cúi xuống rất gần, ngửi mùi bùn trong dấu. Có mùi nhựa tràm nồng, khác hẳn mùi bùn tanh của hố đào. Ông nhìn theo hướng dấu guốc. Chỉ có một dấu rõ nhất ở mép hố. Những dấu sau bị nước và bùn nhão làm mờ, hướng về phía Lung Sậy, như thể sinh vật ấy đã tới đứng bên miệng hố một lúc, nhìn xuống nơi hài cốt bị đào tung, rồi quay đi vào vùng nước sâu.

- Heo rừng thường không để lại dấu như vầy đâu.

Lượm nói khẽ.

- Tôi đi rừng mấy chục năm, săn heo, bẫy heo, thấy dấu heo từ con nhỏ tới con già nanh dài. Con lớn nhất cũng không in sâu và rộng như vầy trên nền bùn cứng. Cái này nặng lắm, và nó đứng yên ở đây lâu, trọng lượng dồn hết xuống một chân.

Phúc không phản bác. Anh chỉ nói một câu rất thực tế.

- Ghi vào biên bản là dấu chân động vật lớn chưa xác định. Đo kích thước, chụp ảnh, lấy khuôn nếu làm được. Không ghi suy đoán vào hồ sơ.

Nhưng khi đứng dậy, anh nhìn Lượm một thoáng. Trong ánh mắt ấy, ông thấy rõ Phúc cũng đang nghĩ tới cùng một truyền khẩu mà dân ấp Kinh Ba vẫn kể, về Ông Heo Sáu Nanh canh Đất Lính.

Chiều đó, đoàn phong tỏa hiện trường bằng dây và biển cảnh báo tạm, cử người canh ở vòng ngoài, rồi rút về trước khi trời tối. Không ai đề nghị ở lại trong Đất Lính ban đêm sau chuyện của Đức. Trên đường về, không khí nặng nề. Hài cốt đã lộ ra ngoài ánh sáng, nhưng nhóm đào trộm thì biến mất vào rừng sâu, và một sinh vật nào đó đủ lớn để in dấu guốc khổng lồ đã tới tận miệng hố.

Lượm ghé nhà Tám Rắn khi trời vừa xế chiều. Ông kể lại hiện trường, dấu guốc, và những bao xương còn lại. Tám Rắn ngồi trên chiếc ghế gỗ cũ, tay đang đan dở một cái lọp, nghe tới đâu thì tay chậm lại tới đó. Khi Lượm kể tới bao hài cốt bị kéo về phía đầm và biến mất, ông bạn già bỏ hẳn chiếc lọp xuống, thở dài một tiếng rất dài.

- Tao đã nói rồi. Đất có người nằm, đào lên là không yên đâu.

- Kiểm lâm phong tỏa rồi. Nhưng tụi Hùng chạy sâu vào rừng. Tao sợ đêm nay tụi nó quay lại lấy nốt, hoặc phi tang nốt những gì còn ở hố.

Tám Rắn lắc đầu, nhìn ra ngoài sân nơi nước nổi vỗ vào chân hàng rào.

- Phong tỏa bằng giấy tờ thì người sợ giấy mới sợ. Tụi nó đã đào tới xương lính rồi, còn giấy nào ngăn được nữa. Mà chuyện không chỉ là tụi nó, Lượm à. Đất bị động thì phải có người chịu trách nhiệm với đất.

Ông chống gậy đứng dậy, vào trong lấy cho Lượm chén nước trà nguội, rồi nói tiếp, giọng chậm rãi như đang nhắc lại một điều đã nghe từ thời ông cha.

- Lệ cũ của dân U Minh mình, mày còn nhớ không? Đào đất có người nằm thì phải quỳ lạy đắp lại. Không phải quỳ cho có, không phải vái mấy vái rồi phủi tay đi. Kẻ đào phải quỳ xuống trước chỗ mình đã đào, xin lỗi người nằm dưới đó, rồi chính tay đắp lại mồ cho đàng hoàng. Không làm đúng lệ đó, đất ấy không bao giờ yên. Người đào không yên, người ở quanh cũng không yên.

Lượm cầm chén trà mà không uống. Câu nói của Tám Rắn rơi vào lòng ông như một hòn đá xuống mặt nước lặng. Quỳ lạy đắp lại. Ông nhớ những lần đi rừng qua các gò mồ vô danh, ông nội Kỉnh đều bắt ông đứng nghiêm, bỏ nón, không được cười nói ồn ào. Với người nhà họ Trần, đất có người nằm không phải là chuyện mê tín để kể cho vui. Đó là lệ, là cách người sống giữ mình khỏi trở thành kẻ vô ơn với người đã chết.

- Nếu tụi nó không quỳ thì sao? Lượm hỏi.

- Thì sẽ có người khác phải đứng ra lo chuyện đắp lại. Nhưng món nợ của kẻ đào vẫn còn đó, đất nó nhớ. Mày đừng tưởng chạy khỏi rừng là chạy khỏi được Đất Lính.

Tám Rắn nhìn thẳng vào bạn, ánh mắt già nua mà sáng rõ.

- Còn mày, đừng có dại mà đi một mình nữa. Đêm qua Đức bị nắm chân là lời nhắc cho cả đoàn đó. Nước dưới lung bây giờ không còn như trước nữa đâu.

Lượm về nhà khi trời bắt đầu tối. Ông ngồi ăn cơm một mình, nghe tiếng nước vỗ vào chân sàn, nghĩ tới miệng hố nham nhở, dấu guốc khổng lồ in sâu vào bùn và những bao hài cốt chưa biết đã bị kéo đi đâu. Nghĩ tới nhóm của Hùng đang lẩn trong rừng sâu, có thể ngay đêm nay sẽ quay lại hố đào để xóa nốt dấu vết trước khi kiểm lâm tăng cường tới.

Ông mở điện thoại cũ, nhìn số của Phúc hiện trên màn hình một lúc lâu. Chỉ cần bấm gọi, ông sẽ phải nghe anh ngăn lại, sẽ phải hứa chờ kế hoạch chung, chờ tăng cường, chờ thêm một đêm nữa. Mà thêm một đêm nữa, theo đúng nhịp đào của nhóm Hùng, là thêm một lớp đất bị xới lên và thêm những bao xương có thể biến mất xuống đầm sâu không bao giờ tìm lại được.

Ông đặt điện thoại xuống. Đó là quyết định sai mà sau này ông không hề chối, một quyết định sinh ra từ cơn giận và từ thói quen mấy chục năm tự mình xử lý mọi chuyện trong rừng. Thói quen ấy đã giúp ông sống sót qua bao mùa nước, nhưng đêm nay nó sẽ khiến ông trả giá đắt hơn bất cứ lần nào trước đây.

Ông đứng dậy, lấy dao rừng và đèn pin, bỏ vào túi đồ. Quyết định hình thành trong ông rõ ràng và không gì lay chuyển được nữa. Tối nay, ông tự mình quay lại hiện trường giữ đất. Không chờ thêm một đêm nào nữa.

---

Chương khác

Xem thêm