HEO LỤC NANH RỪNG U MINH - Chương 17: Lời khai của Tư Ghe
Sáng sáu tháng mười, Lượm ngồi dự buổi lấy lời khai của Dương Văn Tư tại Trạm Kiểm lâm Kinh Ba. Tay phải của ông còn băng gạc, đặt trên đùi. Phúc cho ông…
Nội dung chương
Sáng sáu tháng mười, Lượm ngồi dự buổi lấy lời khai của Dương Văn Tư tại Trạm Kiểm lâm Kinh Ba. Tay phải của ông còn băng gạc, đặt trên đùi. Phúc cho ông ngồi ở góc phòng, không phải với tư cách người thẩm vấn, mà là người dẫn đường đã trực tiếp chứng kiến hiện trường, có thể giúp đối chiếu những điểm Tư khai về đường nước và vị trí lán. Đức ngồi ghi biên bản, cổ chân đã đỡ sưng, thỉnh thoảng ngẩng lên nhìn người đàn ông ngồi đối diện.
Tư Ghe gầy, da sạm nắng, hai bàn tay chai sần vì cầm lái ghe máy nhiều năm. Anh ta bị giữ hành chính từ đêm phục kích ba tháng mười, đã qua hai ngày ở trạm, vẻ hoảng loạn ban đầu dịu đi, thay bằng sự mệt mỏi của người biết mình kẹt giữa pháp luật và một nhóm người không còn đường quay lại. Trước mặt anh ta là chén trà đã nguội và tập giấy trắng chờ chữ ký.
Phúc mở đầu bằng giọng đều, rõ, không dọa nạt.
- Anh khai lại từ đầu. Ai thuê anh, thuê làm gì, giá bao nhiêu, đi đường nào, nhóm có mấy người, mang theo những gì. Anh khai đúng sự thật thì chúng tôi ghi nhận sự hợp tác của anh. Anh giấu điều gì, sau này đối chiếu ra, anh tự chịu trách nhiệm.
Tư gật đầu, nuốt nước bọt, bắt đầu kể.
- Ông Hùng thuê tui ở bến Trần Văn Thời, khoảng cuối tháng chín. Ổng nói cần người chở máy và đồ vào rừng U Minh Hạ làm bãi cát, đường nước khó, cần người quen ghe máy chạy đêm. Giá ổng trả gấp ba ngày thường. Ổng dặn một câu ngay từ đầu, không hỏi, không nhớ đường, không nói với ai. Tui cần tiền, nhà có con nhỏ, nên tui nhận.
- Anh chở những gì? Phúc hỏi.
- Một máy xáng cạp nhỏ, mấy can dầu, bao tải, võng, nồi niêu, và năm người kể cả ông Hùng. Máy nặng, ghe đi chậm. Tui chở làm hai chuyến vào lán đầu tiên. Sau đó tui ở ngoài rạch, khi nào tụi nó cần chở cát ra hoặc chở thêm dầu vào thì gọi.
Tư khai rõ nhóm có đúng năm người. Đỗ Văn Hùng cầm đầu, chủ bãi vật liệu ở huyện Trần Văn Thời. Lê Văn Tài lái xáng cạp. Nguyễn Văn Đạt lo máy móc. Võ Văn Sang làm công theo ngày, khiêng vác và đào phụ. Bùi Thanh Phong là cháu ruột của Hùng, lái ghe máy của nhóm. Không có người thứ sáu nào trực tiếp ở lán, ngoài Tư là người chở thuê ra vào theo chuyến.
Lượm nghe danh sách ấy đối chiếu với những gương mặt ông đã thấy ở quán nước đầu kinh hôm hai mươi mốt tháng chín. Đúng từng người. Không thiếu, không thừa.
Phúc ghi lại, rồi hỏi điểm quan trọng nhất.
- Vũ khí thì sao? Nhóm có mang súng không?
Tư ngập ngừng. Ánh mắt anh ta liếc nhanh về phía Lượm rồi quay lại nhìn Phúc.
- Có. Ông Hùng có một khẩu súng săn. Ổng giữ trong bao da, để ở đầu võng của ổng. Có lần ổng nói trước mặt cả nhóm, ở bàn ăn trong lán, rằng rừng này có heo lớn, gặp heo rừng là bắn trước, hỏi sau. Ổng nói đứa nào cản ổng bắn thì đừng trách.
- Anh tận tai nghe câu đó?
- Tận tai. Không phải nghe kể lại. Đêm đó tui ở lán chờ trời sáng để chở dầu ra, ổng nói khi đang lau súng. Tài còn cười, nói heo nào dám tới gần máy xáng. Ông Hùng nói máy xáng không làm nó sợ thì súng làm nó sợ.
Căn phòng im đi một thoáng. Đức ghi chép nhanh hơn. Lượm đưa tay trái chạm nhẹ vào chiếc nanh trước ngực. Nó lạnh, như mọi khi ở trong phòng sáng đèn và giữa người quen. Nhưng câu nói bắn trước, hỏi sau của Hùng làm ông thấy một mối nguy khác hẳn chuyện đào cát. Một kẻ đã dám đào mồ lính, lại cầm súng và tin rằng mình có thể bắn hạ bất cứ con thú nào cản đường, thì khi đối mặt với sinh vật đã in dấu guốc khổng lồ bên miệng hố, hắn sẽ không lùi. Hắn sẽ bóp cò. Và ông không dám chắc điều gì sẽ xảy ra sau phát súng ấy cho cả hai phía.
Phúc tiếp tục hỏi về kế hoạch.
- Hùng tính đào bao lâu?
- Ổng nói đào ba đêm lớn nữa cho đủ chuyến cát rồi rút hẳn. Ban đầu ổng tính làm gọn, lấy cát ở bãi chìm, bán vài chuyến là trả được nợ, rồi bỏ rừng này luôn. Sau khi đào trúng xương, ổng càng gấp. Ổng nói càng để lâu càng lộ, phải làm nhanh, lấy đủ cát trong lúc kiểm lâm chưa kịp vào lõi. Ổng cũng nói nước sắp lên đỉnh, qua đợt nước này đường rạch cạn sẽ khó đi, muốn rút phải rút trước đó.
- Nợ gì? Lượm không kìm được, hỏi một câu.
Phúc không ngăn ông. Tư nhìn ông già với tay băng, vẻ mặt áy náy hiện rõ. Anh ta biết chiếc xuồng bị lấy trong đêm Lượm bị trói có phần liên quan tới chuyến ghe của mình, dù anh ta không trực tiếp tham gia.
- Nợ của bãi vật liệu. Hai mùa cát ế, hàng tồn, tiền vay nóng bên ngoài. Ông Hùng không nói con số với tui, nhưng mỗi lần nghe điện thoại của chủ nợ, mặt ổng tái đi. Ổng vô rừng này không phải vì ham chơi. Ổng vô vì hết đường ở ngoài kia rồi.
Thông tin về Sang là phần Lượm chú ý nhất. Phúc hỏi tới từng người trong nhóm, và khi nhắc tới Sang, Tư hạ giọng.
- Thằng Sang nó khác. Nó làm công ăn tiền ngày, ít nói, nhưng từ đêm đào trúng xương, nó hay lảng ra ngoài lán một mình. Có lần tui thấy nó đứng ở mép đầm rất lâu, nhìn xuống nước, không làm gì cả. Nó từng cãi với ông Hùng chuyện vứt xương xuống đầm. Nó nói làm vậy thất đức lắm, hay là chôn lại ở bìa rừng cho người ta yên. Ông Hùng chửi nó, nói mày làm thuê thì lo khiêng bao, chuyện khác đừng xen vào. Từ đó nó ít nói hơn nữa, nhưng tui thấy nó không còn nghe lời răm rắp như trước.
- Còn Đạt?
- Đạt là em vợ ông Hùng, theo vì tình thân và vì cần tiền chữa bệnh cho mẹ. Nó là đứa sợ nhất sau đêm thấy xương. Tay nó run khi cầm cờ lê. Nhưng nó không dám bỏ, vì bỏ thì anh rể nó mất mặt, mà tiền chữa bệnh cho mẹ nó thì chưa có.
- Phong?
- Phong trẻ, cháu ông Hùng, ban đầu coi vô rừng là chuyện vui, có tiền, có ghe chạy đêm. Sau đêm phục kích, nó cũng sợ. Nhưng nó sợ ông cậu nó hơn sợ rừng.
Giữa buổi, Phúc cho dừng ít phút để Đức thay băng ở cổ chân và Tư uống nước. Lượm ra sân trạm đứng một mình, nhìn hàng tràm ngoài kinh lay nhẹ trong nắng sớm. Ông nghĩ về con số ba đêm mà Hùng đã tính. Ba đêm lớn, nếu máy xáng chạy liên tục và ghe ra vào kịp, đủ để chúng múc sâu vào lòng hố bom hơn bất cứ lần nào trước, đủ để số hài cốt bị xáo trộn không còn đếm xuể bằng mắt thường nữa. Thời gian từ nay không còn tính bằng tuần như hồi ông mới nghe tiếng máy lạ. Nó tính bằng từng đêm, và mỗi đêm trôi qua trong lúc đoàn còn bàn kế hoạch là một đêm đất bị đào thêm một lớp.
Ông cũng nghĩ về khẩu súng săn. Trong rừng U Minh, súng săn không lạ. Thợ săn đời trước nhà ông cũng từng dùng súng. Nhưng súng trong tay một người đang bình tĩnh đi săn khác hẳn súng trong tay một kẻ nợ nần bị dồn vào rừng sâu, tin rằng chỉ cần bắn trước là giải quyết được mọi thứ cản đường. Lượm đã thấy nhiều người cầm súng trong đời, và ông biết kẻ sợ hãi và tham lam cùng một lúc là kẻ dễ bóp cò sai nhất.
Khi buổi khai tiếp tục, ông ngồi yên hơn, ghi nhớ từng lời của Tư vào đầu như ghi nhớ một tấm bản đồ khác, bản đồ về lòng người trong nhóm cát tặc. Hùng sợ nợ. Tài nợ tiền ứng. Đạt bị kẹt vì mẹ bệnh và tình thân. Phong sợ cậu. Sang bắt đầu sợ việc mình đang làm. Năm con người ấy không phải một khối sắt. Chúng là năm sợi dây căng theo những hướng khác nhau, và nếu có một sợi đứt trước, rất có thể chính là Sang.
Buổi lấy lời khai kéo dài tới gần trưa. Phúc đọc lại toàn bộ biên bản, từng trang, cho Tư nghe và ký tên, điểm chỉ ở cuối. Anh quyết định ghi nhận Tư là nhân chứng hợp tác, tiếp tục tạm giữ hành chính theo quy định trong thời gian ngắn còn lại. Anh cũng đồng thời bảo vệ thông tin lời khai, không để lộ ra ngoài, tránh cho gia đình Tư bị nhóm của Hùng tìm tới gây áp lực.
Sau đó, Phúc trải bản đồ ra bàn, bàn với Lượm kế hoạch tiếp cận Đất Lính bằng đường nước cũ của thợ săn, con đường chỉ những người như ông và cha ông trước đây mới biết. Đường ấy đi vòng qua phía bắc của Lung Sậy, qua một dãy lung cạn nối nhau, vào gần vùng lõi mà không cần dùng đường kinh lớn hay rạch phía nam mà nhóm cát tặc đang canh. Nhược điểm là nước sâu, bùn lún, và phải đi ban ngày mới phân biệt được dấu vết trên mặt đất.
- Mình sẽ đi một chuyến trinh sát ban ngày trước, chú Lượm. Không bắt người, chỉ xác định vị trí lán mới, đường rút của chúng và tình trạng hố đào trong lõi. Có dữ liệu chắc rồi mới tính chuyện phục kích lần hai.
- Tôi đi được. Tay phải còn yếu, nhưng chân tôi còn thuộc đường. Tôi dẫn tới rìa lõi, không vào sâu một mình nữa.
Phúc gật đầu, gấp bản đồ lại.
Khi buổi làm việc kết thúc, Tư được dẫn ra hành lang để về phòng tạm giữ. Đi ngang qua Lượm, anh ta bỗng dừng lại, níu nhẹ vào tay áo ông bằng hai ngón tay, như người sợ làm đau vết băng của ông.
- Chú Lượm, cho tui nói một câu không có trong biên bản.
Lượm nhìn anh ta, gật đầu.
Tư nói nhỏ, chỉ đủ cho ông và Phúc đứng gần nghe rõ.
- Ông Hùng ổng không sợ trời, không sợ đất. Ổng chỉ sợ thiếu tiền trả nợ thôi, chú Lượm. Người như vậy, tới lúc bị dồn, ổng dám làm liều hơn bất cứ ai mà tui từng chở ghe cho.
Anh ta buông tay áo ông ra, cúi đầu đi theo kiểm lâm viên về phòng tạm giữ. Lượm đứng ở hành lang trạm, nhìn theo bóng lưng gầy của người chở ghe thuê, và nghĩ rằng câu nói không có trong biên bản ấy có khi lại là lời khai thật nhất của cả buổi sáng.
---