HEO LỤC NANH RỪNG U MINH - Chương 5: Người lạ ở đầu kinh
Sáng ngày 21 tháng 9 năm 2025, đầu kinh Tám Ngàn Nhỏ bỗng náo nhiệt khác thường. Trần Văn Lượm ghé quán nước đầu kinh uống trà như mọi bữa thì thấy một…
Nội dung chương
Sáng ngày 21 tháng 9 năm 2025, đầu kinh Tám Ngàn Nhỏ bỗng náo nhiệt khác thường.
Trần Văn Lượm ghé quán nước đầu kinh uống trà như mọi bữa thì thấy một đoàn ghe lạ đã cập ở bến từ sớm. Một chiếc ghe máy lớn, sơn xanh đã tróc, máy khỏe, và phía sau là một sà lan chở một máy xáng cạp phủ bạt kín, chỉ lộ ra cần cạp cong lên như cổ một con chim sắt. Trên bến, năm người đàn ông đang ngồi ăn sáng, uống cà phê, nói chuyện với bà chủ quán bằng giọng của người từ nơi khác tới, lịch sự và kín đáo.
Người cầm đầu rõ ràng là người đàn ông ngồi ở bàn trong cùng. Ông ta khoảng bốn mươi bảy tuổi, người đậm, mặt vuông, tóc chải gọn, mặc áo sơ mi và quần tây dù đang ở bến kinh vùng rừng, tay đeo đồng hồ lớn. Cách ông ta nói chuyện cho thấy đó là người quen ra lệnh và quen tính toán. Bà chủ quán giới thiệu loáng thoáng: đây là anh Đỗ Văn Hùng, chủ bãi vật liệu ở huyện Trần Văn Thời, dẫn đoàn đi khảo sát bãi bồi trong rừng.
Hùng đứng dậy chào Lượm rất niềm nở khi nghe bà chủ nói ông là thợ săn lâu năm ở ấp Kinh Ba.
- Nghe danh chú Lượm đã lâu. Tụi con từ Trần Văn Thời qua, tính đi xem mấy bãi bồi trong rừng, coi có làm ăn gì được không. Chú rành rừng ở đây, có gì chỉ bảo cho tụi con với.
- Đất rừng mùa nước nổi, xem thì xem, đi sâu thì nguy hiểm. Mấy chú đi đường nào?
- Dạ, nghe nói đi kinh Tám Ngàn Nhỏ vào là gần nhất. Tụi con chỉ xem đất, đo đạc sơ sơ rồi ra, không làm gì lâu đâu chú.
Lời nói trơn tru, nhưng mắt Hùng không rời khỏi Lượm được lâu. Trong lúc nói chuyện, ánh mắt ông ta cứ trở đi trở lại một chỗ: chiếc nanh bạc trước ngực Lượm, lộ ra ngoài cổ áo bà ba vì trời nóng. Ông ta nhìn chằm chằm lâu bất thường, lâu hơn mức tò mò bình thường của một người lạ thấy đồ trang sức lạ. Rồi ông ta cười, hỏi nửa đùa nửa thật:
- Chú đeo cái nanh đẹp quá. Nanh heo rừng thiệt hả chú? Đồ cổ như vậy chắc đáng giá lắm. Có ai trả giá cao, chú có tính bán không?
Lượm nhìn thẳng vào mắt Hùng, đáp chậm và rõ:
- Đây là đồ thờ của nhà tôi. Của ông nội để lại. Không bán, dù giá nào cũng không bán.
Hùng cười xòa, giơ tay như xin lỗi.
- Dạ, con hỏi vui thôi, chú đừng giận. Đồ gia truyền thì quý thiệt, tiền nào mua được.
Nhưng ánh mắt ông ta khi quay đi vẫn còn liếc lại chiếc nanh một lần nữa, và Lượm ghi nhớ cái liếc mắt đó rất kỹ. Người làm ăn nhìn một món đồ như nhìn hàng hóa định giá, ông đã thấy nhiều lần ở chợ. Còn ánh mắt của Hùng bữa đó không chỉ là định giá. Nó có thêm một thứ gì khác, như sự thèm muốn đã có từ trước, như thể ông ta đã nghe nói về chiếc nanh này từ trước khi gặp mặt ông.
Trong lúc nói chuyện, Lượm cũng ghi nhớ từng gương mặt còn lại trong nhóm, theo thói quen của thợ săn là nhớ dấu vết.
Người thợ lái xáng tên Lê Văn Tài, ba mươi chín tuổi, vai rộng, tay to, ít nói, ngồi ăn mà mắt cứ nhìn ra chiếc sà lan phủ bạt như lo cho máy móc của mình. Người thợ máy tên Nguyễn Văn Đạt, ba mươi lăm tuổi, gầy hơn, mặt có vẻ mệt mỏi, là em vợ của Hùng theo lời giới thiệu. Gã trai lầm lì tên Võ Văn Sang, hai mươi tám tuổi, ngồi ở mép bàn, ăn chậm, không tham gia câu chuyện, mắt nhìn xuống mặt bàn phần lớn thời gian. Và thằng cháu ruột của Hùng, Bùi Thanh Phong, hai mươi bốn tuổi, lái ghe máy, trẻ nhất nhóm, nói cười lớn tiếng nhất, coi chuyến đi rừng này như một chuyến đi chơi có tiền công.
Năm người, một ghe máy, một sà lan chở máy xáng cạp. Đó không phải đoàn đi xem đất. Đó là một tổ làm việc đầy đủ, có thợ máy, có thợ lái xáng, có người lái ghe, có lao động, và có ông chủ đi theo để quyết định tại chỗ.
Lượm uống hết ly trà, chào bà chủ quán, ra về mà không hỏi thêm câu nào. Hỏi nhiều lúc đó chỉ làm đối phương cảnh giác. Ông đã thấy đủ những gì cần thấy trong một buổi sáng: máy xáng là thật, người là thật, hướng đi của chúng là kinh Tám Ngàn Nhỏ, và ông chủ của chúng đã để ý tới chiếc nanh trên cổ ông ngay từ lần gặp đầu tiên.
Buổi chiều hôm đó, ông đứng ở bến nhà mình nhìn ra mặt kinh. Khoảng xế chiều, đoàn ghe của Hùng nổ máy rời bến đầu kinh. Ghe máy đi trước, sà lan chở máy xáng phủ bạt theo sau, chạy chậm và đều vào kinh Tám Ngàn Nhỏ, với lý do nói với bà chủ quán là đi xem đất trước khi trời tối rồi sẽ quay ra.
Ông đứng nhìn cho tới khi đoàn ghe khuất sau khúc quanh đầy tràm. Mặt kinh lặng sóng trở lại sau vệt sóng của đoàn ghe, phẳng lặng và yên tĩnh như chưa có gì xảy ra.
Nhưng đoàn ghe không quay ra.
Trời tối dần, ông vẫn ngồi ở hiên, thỉnh thoảng lại nhìn ra mặt kinh. Không có tiếng máy trở ra, không có ánh đèn ghe nào quay lại hướng thị trấn. Chúng đã ở lại trong rừng, ở một chỗ nào đó trên tuyến kinh dẫn về phía Đất Lính, đúng như ông đã lo ngại từ ngày nghe tiếng máy lạ đầu tiên.
Con Vện nằm bên chân ông, tai dựng lên nghe ngóng. Ông đưa tay nắm chặt chiếc nanh trước ngực. Nó vẫn lạnh ngắt, lạnh yên, nhưng bàn tay ông thì không yên chút nào.
Ông nói nhỏ, chỉ mình ông nghe:
- Tụi nó không vào rừng để xem đất.
Ông biết rõ, từ giây phút đó, cuộc đối đầu giữa lệ rừng mấy chục năm của nhà ông và lòng tham tính bằng tiền cát của đám người lạ kia đã bắt đầu, dù chưa ai nói một lời nào về chuyện đào bới. Máy xáng đã vào rừng, người đã vào rừng, và Đất Lính đang nằm ở cuối con đường nước đó, im lặng chờ đợi như nó đã chờ đợi suốt từ năm 1972 tới nay.
Đêm đó, ông gọi điện cho trạm kiểm lâm báo lại việc đoàn ghe không quay ra, để Phúc ghi vào sổ trực ban, rồi ông ngồi rất lâu ở hiên nhà trước khi vào ngủ. Trong bóng tối của rừng tràm phía xa, không một ánh đèn nào lộ ra, chứng tỏ đoàn người kia đã biết cách giấu mình ngay từ đêm đầu tiên. Đó mới là điều làm ông lo nhất: chúng không phải dân làm ăn tay ngang vô rừng liều lĩnh, chúng là những người đã chuẩn bị kỹ, đã tính trước cả việc tránh kiểm lâm, tránh dân địa phương, và tránh ánh sáng.
Ông nhớ lại từng chi tiết nhỏ trong buổi sáng ở quán nước, vì thợ săn sống được lâu là nhờ nhớ những chi tiết mà người khác bỏ qua. Hùng hỏi giá thuê ghe ở địa phương, hỏi mùa nước nổi kéo dài bao lâu, hỏi kiểm lâm có hay đi tuần ban đêm không, mỗi câu hỏi đều được gói trong vẻ tò mò của dân làm ăn mới tới. Nhưng cộng lại thì thành một bản đồ rõ ràng: đường vào, thời gian làm việc, và lực lượng có thể cản trở chúng. Tài Xáng hỏi mua dầu máy ở đâu gần nhất nếu cần thêm. Đạt hỏi sóng điện thoại trong rừng có phủ tới đâu. Phong cười nói trong rừng ban đêm có ma không, hỏi như đùa mà mắt thì chờ người ta trả lời thật. Chỉ có Sang là không hỏi gì cả, từ đầu tới cuối chỉ ngồi ăn và nhìn mặt nước kinh, như người đi làm thuê chỉ cần biết ngày công của mình, còn việc ông chủ làm gì trong rừng thì không phải chuyện của anh ta.
Lượm cũng để ý tới đồ đạc trên sà lan khi đi ngang qua bến. Dưới tấm bạt phủ máy xáng, ông thấy lộ ra mấy bao tải lớn xếp chồng, mấy can dầu hai mươi lít, một cuộn dây cáp thép, và một cây xà beng dài. Không có dụng cụ đo đạc đất đai nào như đoàn khảo sát thật sự vẫn mang theo. Không thước dây, không máy định vị cầm tay lộ ra ngoài, không sổ sách ghi chép. Đồ nghề của chúng là đồ nghề đào và chở, không phải đồ nghề xem đất. Chỉ cần nhìn bấy nhiêu đó, ông đã biết bà chủ quán và bất cứ ai tin vào lời nói đi xem đất của Hùng đều đang bị một câu chuyện bịa che mắt một cách khéo léo.
Trên đường về nhà buổi sáng đó, ông gặp hai người dân trong ấp cũng vừa ở quán nước ra. Họ bàn tán với nhau rằng có đoàn làm ăn lớn vào rừng, chắc năm nay ấp mình sắp có việc làm, có khi còn được thuê chở đồ, canh ghe, nấu ăn. Lượm nghe mà không chen vào. Ông hiểu vì sao người dân dễ tin: giá cát tăng, công trình nhiều, ai có việc trả công cao cũng mừng, nhất là trong mùa nước nổi việc làm ít. Nhưng ông cũng biết rõ, khi tiền bắt đầu chảy vào một vùng rừng thiêng, kiêng cữ sẽ là thứ đầu tiên bị người ta cười chê là mê tín, cho tới khi chính họ phải trả giá cho sự coi thường đó. Ông đã sống đủ lâu ở U Minh Hạ để chứng kiến vài lần như vậy, với những cái kết không lần nào là nhẹ nhàng.
Một đám người như vậy, khi đã đào trúng thứ mà chúng tìm, sẽ không dễ gì dừng lại vì một lời nhắc nhở hay một lệ kiêng cữ của người xưa.
---