HEO LỤC NANH RỪNG U MINH - Chương 50: Epilogue: Món nợ ân tình
Một tháng sau đêm lễ, vào ngày hai mươi tháng mười hai, nước nổi đã rút hẳn khỏi rừng U Minh Hạ. Những con kinh quanh ấp Kinh Ba trở về mực nước bình…
Nội dung chương
Một tháng sau đêm lễ, vào ngày hai mươi tháng mười hai, nước nổi đã rút hẳn khỏi rừng U Minh Hạ. Những con kinh quanh ấp Kinh Ba trở về mực nước bình thường của mùa khô, hai bờ đất đen lộ ra khô ráo, hàng tràm đứng trên nền đất nứt nhẹ dưới nắng cuối năm. Rừng yên tĩnh theo một cách khác hẳn sự im lặng căng thẳng của những tháng trước: đây là sự yên tĩnh của một khu rừng đã qua mùa nước, đang nghỉ ngơi.
Trên gò cao Đất Lính, bia đá mới đã dựng xong trên nấm mồ chung. Tấm bia bằng đá lớn, mặt đá mài nhẵn, khắc dòng chữ rõ ràng và trang trọng: 27 liệt sĩ vô danh, Đất Lính, U Minh Hạ. Dưới chân bia là nền đất được đắp lại phẳng phiu sau mùa nước, cỏ non bắt đầu mọc xanh ở những chỗ đất mới. Quanh mồ, dân xóm đã trồng một hàng tràm non, cây mới cao ngang đầu gối người lớn, lá xanh mỏng rung nhẹ trong gió trưa. Đường mòn từ bến xuồng lên gò cũng đã làm xong, lót bằng đất sét nện chặt, đủ cho người tới thắp nhang đi lại khô ráo.
Sáng hôm đó, Lượm dẫn cháu nội Trần Ngọc Trâm vào thăm mồ lần đầu tiên. Con bé mười một tuổi mặc áo dài tay chống nắng, đội nón lá nhỏ, ngồi ở mũi xuồng ba lá ôm chặt chiếc cặp đựng mấy nén nhang và một bó hoa cúc vàng do mẹ nó chuẩn bị ở nhà. Toàn chạy ghe máy nhỏ đi phía sau một đoạn rồi neo lại ở bến ngoài theo ý cha, để hai ông cháu tự đi xuồng vào đoạn cuối cho chậm rãi và yên tĩnh. Con Vện nằm ở đuôi xuồng của Lượm, đầu gác lên mạn xuồng, mắt nhìn mặt nước lững lờ trôi.
Đường xuồng từ ấp vào Đất Lính hôm nay khác hẳn những chuyến đi trong mùa nước. Nước cạn và trong hơn, xuồng lướt nhẹ, hai bên là rừng tràm đứng yên dưới nắng, thỉnh thoảng có tiếng chim kêu lẻ loi và tiếng cá quẫy dưới đám bèo. Trâm ngồi yên, thỉnh thoảng hỏi ông nội tên của một loài cây hay một con chim vừa bay qua. Lượm trả lời từng câu chậm rãi, như mọi chuyến đi rừng ông từng dẫn con cháu trong nhà.
Khi xuồng lướt qua mặt Lung Sậy, một chuyện nhỏ xảy ra mà chỉ người quen dấu hiệu của rừng này mới nhận ra. Con Vện bỗng cúp đuôi, nằm bẹp xuống đáy xuồng trong đúng một nhịp ngắn, toàn thân ép sát ván xuồng, không sủa, không rên. Lượm đặt tay lên chiếc nanh trước ngực. Nanh lạnh ngắt, không đổi nhiệt một chút nào. Ông nhìn mặt lung phẳng lặng quanh xuồng, không có vòng sóng lớn, không có mùi nhựa tràm nồng gắt, không có sự im lặng tuyệt đối đáng sợ nào. Chỉ một nhịp nằm bẹp rất ngắn của con chó già, như một thói quen cũ của cơ thể khi đi ngang qua lãnh thổ của một sinh vật nó kính sợ từ trong bản năng.
Rồi con Vện đứng lên bình thường, vẫy đuôi, gác mõm lên mạn xuồng như chưa có chuyện gì xảy ra.
Lượm hiểu dấu hiệu đó theo cách của một người đi rừng cả đời. Ông Heo vẫn còn đâu đó trong rừng sâu, yên ổn và không còn giận dữ. Nó không cần xuất hiện. Sự hiện diện lặng lẽ của nó ở đâu đó sau hàng tràm kia, đủ để người giữ nanh biết rằng mọi chuyện đã thật sự khép lại trong yên bình. Ông không nói gì với cháu về nhịp nằm bẹp đó ngay lúc ấy. Ông giữ nó lại cho câu chuyện bên mồ.
Xuồng cập bến dưới chân gò. Lượm đỡ cháu lên bờ, hai ông cháu đi chậm theo đường mòn mới lên đỉnh gò. Trâm đứng trước bia đá mới, đọc to dòng chữ khắc trên bia một lần, rồi tự mình thắp ba nén nhang, cắm lên bàn thờ nhỏ trước mồ, chắp tay vái ba vái theo lời ông nội chỉ. Khói nhang bay lên thẳng trong trưa không gió, thơm dịu.
Bên nấm mồ, dưới bóng của mấy cây tràm lớn quanh gò, Lượm ngồi xuống bên cháu và kể lại trọn vẹn món nợ ân tình ba đời của họ Trần. Ông kể từ đầu, chậm rãi, theo đúng thứ tự ông đã hứa với Toàn hôm trước: bắt đầu từ năm một ngàn chín trăm sáu mươi tám.
Ông kể chuyện ông cố của Trâm, Trần Văn Kỉnh, trong một chuyến đi rừng năm đó đã gặp một con heo rừng sáu nanh bị bẫy siết trọng thương. Chỉ cần một phát súng là có một món hời lớn. Nhưng ông cố đã tháo bẫy, dùng lá thuốc rừng băng lại vết thương, để con thú đi. Ông kể tiếp chuyện tháng hai năm một ngàn chín trăm bảy mươi lăm, khi bom rừng làm sập hầm và chôn ông cố dưới đất đá. Chính con heo năm xưa đã quay lại, đào đất bằng mõm và chân, dùng miệng kéo ông cố ra khỏi hầm sập, và trong lúc kéo, một chiếc nanh hàm dưới bên phải của nó vướng gốc dầu bật gãy. Ông cố nhặt chiếc nanh gãy đó mang về, nhờ thầy Sáu Xương khắc chín chữ bùa Lỗ Ban lên, bọc bạc, đeo trên cổ suốt đời, và dặn con cháu một câu không bao giờ được quên: nanh này là của một ông thần còn sống, không được bán.
Ông kể chuyện chiếc nanh truyền qua tay ông nội của Trâm là Trần Văn Bảy từ năm hai ngàn không trăm lẻ ba tới năm hai ngàn mười lăm, rồi truyền tới tay ông từ năm đó tới nay. Ông kể chuyện mùa nước nổi năm nay, chuyện người ta vào rừng đào trộm cát, đào trúng mồ của hai mươi bảy người lính nằm từ năm một ngàn chín trăm bảy mươi hai, đổ xương xuống đầm. Ông kể chuyện hai người đã chết trong đất này vì lòng tham, chuyện cả xóm cùng nhau vớt lại từng bộ hài cốt, đắp lại nấm mồ này, và chuyện đêm mười bốn tháng mười một. Khi ba người từng đào mồ quỳ xuống trước mồ này mà xin lỗi, và ông Heo từ Lung Sậy đi lên, nhìn thấy chiếc nanh trên cổ ông, rồi quỳ hai chân trước xuống đất ngay tại chỗ hai ông cháu đang ngồi đây.
Trâm nghe không sót một chữ. Con bé ít hỏi chen vào, chỉ thỉnh thoảng nhìn xuống chiếc nanh bạc trên cổ ông nội rồi lại nhìn ra mặt lung phía xa. Tới cuối câu chuyện, nó hỏi một câu duy nhất, bằng giọng của một đứa trẻ mười một tuổi đang cố hiểu một chuyện lớn hơn tuổi mình rất nhiều:
- Ông nội, vậy chiếc nanh này là bùa phép mạnh lắm hả ông? Nó bắt ông Heo phải quỳ xuống phải không?
Lượm lắc đầu, mỉm cười, đưa tay vuốt tóc cháu. Ông tháo không, ông chỉ đặt tay lên chiếc nanh trước ngực mình, nói chậm rãi câu kết mà ông đã giữ trong lòng cho đời thứ tư của họ Trần:
- Không phải bùa phép gì hết, con. Bùa trên nanh chỉ giữ cho người đeo được yên, báo cho người đeo biết khi nào có chuyện không lành gần tới. Nó không bắt ai quỳ xuống được hết. Ông Heo quỳ xuống đêm đó là vì ổng nhận ra chiếc nanh của ổng, và vì người ta đã biết lỗi thiệt lòng. Chiếc nanh này là một món nợ ân tình. Người giữ nó phải nhớ mình nợ ai, nợ chuyện gì, và phải sống sao cho xứng với món nợ đó. Tới đời con, nếu con được giữ nó, con cũng phải nhớ y như vậy.
Trâm gật đầu thật chậm, mắt nhìn nấm mồ trước mặt. Nó không nói là nó hiểu hết. Nhưng nó đặt bàn tay nhỏ của mình lên mặt bia đá ấm nắng, đứng lặng một lúc lâu, như đang tự mình ghi nhớ một điều khắc cốt quan trọng hơn bất kỳ bài học nào trong sách vở.
Trước khi rời mồ, Lượm dẫn cháu đi một vòng quanh gò, chỉ cho nó xem từng dấu vết còn lại của những ngày tháng vừa qua mà từ nay sẽ thành một phần của câu chuyện nó phải nhớ. Ông chỉ hàng cọc tràm gia cố ở góc mồ từng bị nước cuốn sập hôm mười bốn, nay đã mọc rêu xanh ở chân cọc. Ông chỉ vị trí dấu guốc khổng lồ bên cạnh bia cũ, nay đất đã khô và dấu in chỉ còn là một vết lõm mờ trên nền đất cứng. Nhưng người trong xóm đã thống nhất với nhau là không ai san phẳng nó, cứ để nó ở đó như một phần của nấm mồ này. Ông chỉ hàng tràm non mới trồng, dặn cháu mai này cây lớn lên sẽ che mát cho mồ, và người tới thắp nhang sẽ ngồi dưới bóng tràm đó mà nghỉ chân. Trâm đi theo ông nội, nghe và nhìn từng thứ một, thỉnh thoảng cúi xuống chạm tay vào mặt đất ấm nắng trên đỉnh mồ.
Ông cũng kể thêm cho cháu nghe một chuyện nhỏ mà ông chưa kể trong câu chuyện chính. Đêm lễ hôm đó, sau khi ông Heo lặn vào rừng sâu, ba người trẻ đã quỳ trước mồ này rất lâu, lâu hơn cả lúc đọc khấn. Ông nói người lớn biết lỗi thiệt lòng thì quỳ bao lâu cũng thấy chưa đủ, và đó là điều con bé nên nhớ khi lớn lên. Lời xin lỗi nói ra chỉ là bắt đầu, giữ lời xin lỗi đó bằng việc làm những năm sau mới là phần khó nhất. Ba người đó từ nay sẽ thay phiên nhau vào đây chăm sóc mồ theo lịch công ích, nhưng ông dặn cháu, mai này dù họ có làm xong phần việc theo giấy tờ. Người họ Trần mình vẫn có trách nhiệm riêng với nơi này, một trách nhiệm không ghi trên giấy tờ nào hết, bắt đầu từ chiếc nanh trên cổ ông và từ câu chuyện ông vừa kể.
Hai ông cháu thắp thêm một nén nhang nữa trước khi xuống gò. Lượm để cháu tự tay cắm nhang, tự tay vái, không nhắc một lời nào. Con bé làm chậm và ngay ngắn. Xuống tới bến xuồng, nó quay lại nhìn gò mồ một lần nữa rồi mới bước xuống xuồng, ngồi ngay ngắn ở mũi, hai tay đặt trên đầu gối, khác hẳn vẻ háo hức lúc mới tới hồi sáng. Lượm nhìn cháu mà thấy trong lòng một niềm yên tâm lặng lẽ. Câu chuyện ba đời đã có người nghe thứ tư. Dù chiếc nanh còn nhiều năm nữa mới tới lượt truyền, hạt giống của sự ghi nhớ đã gieo xuống đúng chỗ của nó.
Buổi chiều, hai ông cháu rời Đất Lính khi nắng đã ngả vàng qua hàng tràm. Xuồng chở hai ông cháu lướt chậm ra khỏi bến, Toàn chạy ghe tới đón ở đoạn kinh rộng phía ngoài. Trâm ngồi ở mũi xuồng quay đầu nhìn lại gò mồ và tấm bia đá nhỏ dần sau hàng cây, tay vẫn nắm chặt chiếc nón lá.
Trên mặt lung phẳng lặng phía sau xuồng, một gợn sóng rất nhẹ lan ra rồi tắt, như lời đáp của rừng.