HEO LỤC NANH RỪNG U MINH - Chương 49: Hủy lệnh
Sáu ngày sau đêm lễ, vào sáng ngày hai mươi tháng mười một, Lượm nhận được cuộc gọi của Phúc khi ông đang ngồi vá lại chiếc lọp bẫy trăn ở hiên nhà.…
Nội dung chương
Sáu ngày sau đêm lễ, vào sáng ngày hai mươi tháng mười một, Lượm nhận được cuộc gọi của Phúc khi ông đang ngồi vá lại chiếc lọp bẫy trăn ở hiên nhà. Giọng Phúc ở đầu dây bên kia vui rõ rệt, khác hẳn giọng căng thẳng của những tuần trước.
- Xong rồi anh Lượm, Phúc nói. Huyện vừa ký quyết định chính thức. Hủy hẳn phương án xử lý thú dữ ở Lung Sậy. Không còn tạm dừng nữa. Hủy luôn.
Lượm đặt chiếc lọp xuống, tay vẫn còn giữ sợi mây dở dang. Ông im lặng một lúc, như để cho câu nói đó thấm vào mình cho trọn. Từ ngày một tháng mười một, khi ông bước ra khỏi phòng họp huyện với mười ngày tạm dừng giành được trong thế thua, cho tới sáng nay, gần ba tuần lễ ông sống với cảm giác một sợi dây thòng lọng treo lơ lửng trên đầu khu rừng này. Thuốc nổ có thể xuống lung bất kỳ lúc nào nếu có một chuyện ngoài ý muốn xảy ra. Nay sợi dây đó đã được tháo xuống hẳn, bằng một tờ quyết định có dấu đỏ đàng hoàng.
Phúc kể tiếp, theo đúng tác phong của người làm hồ sơ. Quyết định hủy lệnh dựa trên hai căn cứ chính. Thứ nhất là báo cáo của Trạm Kiểm lâm Kinh Ba về diễn biến đêm lễ mười bốn: thú rừng xuất hiện trong thời gian ngắn, không tấn công con người. Tự rút sâu vào rừng tràm và từ đó tới nay không có thêm bất kỳ vụ việc đe dọa nào được ghi nhận quanh Đất Lính. Thứ hai là hồ sơ thu gom hài cốt liệt sĩ đã hoàn chỉnh: đủ hai mươi bảy bộ hài cốt, biên bản kiểm đếm đầy đủ, nấm mồ chung đã an táng trang trọng. Khu vực được đánh giá là đã ổn định, không còn yếu tố kích động hành vi nguy hiểm của thú hoang dã như giai đoạn bị đào trộm cát.
Cùng với quyết định hủy lệnh, huyện đồng ý khoanh vùng bảo vệ khu đất quanh gò mồ Đất Lính. Từ nay, mọi hoạt động đào bới, khai thác cát hay xâm nhập trái phép vào khu vực này đều bị cấm và sẽ bị xử lý nghiêm. Trạm kiểm lâm được giao lập chốt tuần tra định kỳ trên tuyến kinh vào Đất Lính.
Tin vui thứ hai tới ngay trong cùng buổi sáng. Khu mộ hai mươi bảy liệt sĩ vô danh ở Đất Lính chính thức được công nhận. Huyện hỗ trợ kinh phí xây bia đá chính thức thay cho tấm bia tạm khắc tay. Làm một đoạn đường mòn từ bến xuồng lên gò mồ để dân và thân nhân liệt sĩ khắp nơi có đường vào thắp nhang, và giao cho xã Khánh An phối hợp cùng kiểm lâm quản lý khu mộ. Phúc nói ngày khởi công bia đá sẽ ấn định trong tháng mười hai, khi nước rút hẳn và đường vào khô ráo.
- Mai này người ta tới thắp nhang sẽ đi đường đàng hoàng, Phúc nói. Không phải lội bùn như tụi mình bữa trước nữa.
Trước buổi gặp chiều hôm đó, Lượm vào Đất Lính một chuyến ngắn cùng Phúc để xem lại khu đất sau sáu ngày kể từ đêm lễ. Nước đã rút thêm được một đoạn, chân gò mồ khô hơn, dấu guốc khổng lồ bên cạnh bia tạm vẫn còn in rõ trên nền đất đang se lại, chưa bị mưa mới làm nhòa. Phúc cho người cắm bốn cọc mốc quanh khu vực bảo vệ, kéo dây đánh dấu tạm thời trong khi chờ hồ sơ khoanh vùng chính thức. Anh nói từ nay bất kỳ ghe lạ nào vào tuyến kinh này đều sẽ bị kiểm tra, và câu chuyện đào cát ở Đất Lính coi như chấm dứt hẳn tại đây. Lượm đứng trước nấm mồ thắp một nén nhang, khói nhang bay thẳng trong buổi trưa không gió. Ông báo lại trong lòng với hai mươi bảy người nằm dưới đất rằng lệnh nổ đã hủy, khu mồ đã được công nhận, và từ nay sẽ có bia đá đàng hoàng cùng người chăm sóc thường xuyên. Nói xong, ông đứng lặng một lúc lâu mới quay ra xuồng.
Trên đường về, ngang qua Lung Sậy, mặt lung phẳng lặng không một gợn sóng. Không có lưng đen nào trồi lên tiễn đoàn như hôm vớt bao hài cốt cuối cùng. Sự vắng mặt bình yên đó, với Lượm, lại là tin tốt nhất. Nó có nghĩa là chủ rừng đã trở về với nhịp sống lặng lẽ vốn có của nó, không còn lý do gì phải xuất hiện trước mặt con người nữa.
Buổi chiều hôm đó, Lượm cùng Phúc gặp lại Sang, Phong và Đạt ở trạm kiểm lâm để nghe thông báo phần xử lý pháp lý liên quan tới ba người. Không khí buổi gặp không nặng nề như họ lo sợ, nhưng cũng không nhẹ nhõm hoàn toàn. Cả ba đều bị xử lý về hành vi đào trộm cát và xâm phạm mồ mả theo đúng quy định. Tuy nhiên, hồ sơ ghi nhận rõ các tình tiết: cả ba đã tự thú, thành khẩn khai báo, tích cực tham gia khắc phục hậu quả bằng chính tay mình, từ việc vớt lại hài cốt, đắp mồ cho tới việc quỳ lạy tạ tội trong đêm lễ. Kết quả cuối cùng, cả ba nhận án treo và một thời gian lao động công ích. Phần việc công ích được giao cụ thể: chăm sóc khu mộ Đất Lính, dọn dẹp, đắp đất sau mùa nước, thắp nhang và giữ gìn đường mòn vào mồ.
Sang nghe xong, im lặng một lúc rồi nói một câu làm cả phòng lặng đi:
- Vậy là tụi tôi được ở lại giữ mồ thiệt. Không phải chỉ nói miệng đêm lễ nữa. Giấy tờ ghi rõ ràng vậy. Tôi mừng.
Đạt gật đầu liên tục, cánh tay phải của anh ta vẫn còn bó bột, chỉ cử động được những ngón tay thò ra ngoài lớp bột. Anh ta nói mình sẽ là người đắp đất sau mùa nước đầu tiên, bằng cả hai tay nếu tay kịp lành, bằng một tay nếu chưa kịp. Phong, người trẻ nhất, hỏi Phúc về lịch tuần tra chung với kiểm lâm để sắp xếp công việc chạy ghe của mình cho phù hợp, không bỏ sót một buổi công ích nào.
Lượm ngồi nghe ba người trẻ đó bàn chuyện giữ mồ bằng một giọng điệu nghiêm túc của người lớn thật sự, lòng ông nhẹ đi một phần rất lớn. Ông nhớ lại hình ảnh của họ những ngày đầu: Sang câm lặng khiêng máy theo lệnh, Phong cười đùa coi chuyến đi rừng là chuyện vui, Đạt hoảng loạn bám theo anh rể. Những con người đó giờ đã khác hẳn, không phải vì bản án treo trên đầu, mà vì chính tay họ đã vớt xương, đắp đất và quỳ xuống trong đêm mưa. Ông tin sự thay đổi đó là thật và sẽ bền.
Tối hôm đó, ở nhà Lượm, Toàn nói với cha một quyết định anh đã suy nghĩ suốt từ đêm lễ. Cả nhà ăn cơm xong, Trâm đã vào buồng học bài, hai cha con ngồi ở bàn ngoài với ấm trà nóng.
- Ba, Toàn mở lời, con tính rồi. Con thôi chạy ghe chở cát thuê cho các bãi vật liệu. Việc đó bữa trước con làm vì tiền, không hỏi hàng là cát gì, chở đi đâu. Sau vụ này con không làm nữa. Con đã nộp hồ sơ xin theo học lớp kiểm lâm viên cộng đồng của huyện mở đầu năm tới. Con muốn học nghề giữ rừng đàng hoàng, như ba giữ đất này, như anh Phúc làm ở trạm.
Lượm nhìn con trai hồi lâu. Ông nhớ năm xưa, cũng ở chiếc bàn này, Toàn từng gạ ông bán chiếc nanh với giá ba trăm triệu để sửa nhà, coi nó chỉ là một món đồ cổ có giá. Ngày đó hai cha con cãi nhau một trận lớn. Toàn ngày đó là một người con thực tế, lo kinh tế, không tin vào những câu chuyện cũ của cha. Toàn hôm nay ngồi trước mặt ông là một người đàn ông đã lặn mò bao hài cốt cuối cùng ở rìa Lung Sậy. Đã lao xuống dòng nước xoáy vớt lại chiếc nanh cho cha, đã đứng yên ở vòng ngoài suốt đêm lễ theo lời cha dặn dù lòng nóng như lửa. Chặng đường thay đổi đó dài hơn nhiều so với mấy tháng mùa nước nổi vừa qua.
- Con tính kỹ chưa? Lượm hỏi. Nghề giữ rừng cực, tiền ít hơn chạy ghe nhiều.
- Con tính kỹ rồi ba, Toàn đáp. Tiền ít mà ngủ yên. Con chở cát thuê, đêm nào cũng tự hỏi cát đó đào ở đâu, có phải đào mồ người ta lên không. Con chịu không nổi nữa.
Lượm gật đầu, rót thêm trà cho con. Sau bữa cơm, khi Toàn đã về phòng, Lượm một mình tháo chiếc nanh khỏi cổ, đặt lên bàn dưới ánh đèn, ngắm nó thật lâu. Đây là lần đầu tiên sau nhiều năm ông gỡ nó ra giữa buổi tối không phải để ngủ, chỉ để nhìn. Lớp bạc xỉn màu. Chín chữ bùa khắc chìm. Chân nanh gãy cũ kỹ. Một vật nhỏ bé nằm gọn trong lòng bàn tay, vậy mà mang theo câu chuyện của ba đời người và một con thú sống hơn nửa thế kỷ trong rừng sâu.
Ông đeo lại chiếc nanh lên cổ, chậm rãi và chắc chắn. Món nợ này chưa truyền được, ông nghĩ. Không phải vì Toàn chưa xứng đáng. Mà vì đời sau phải hiểu hết câu chuyện của nó trước khi đeo nó lên cổ. Đeo một món nợ mà không hiểu mình nợ ai, nợ chuyện gì, thì chiếc nanh cũng chỉ là một món đồ cổ để bán lấy tiền sửa nhà, như ý nghĩ của chính Toàn ngày xưa.
Đêm đó Lượm ngủ một giấc sâu đầu tiên sau nhiều tuần lễ. Không mộng mị. Không giật mình vì tiếng nước hay tiếng ghe máy lạ ngoài kinh. Con Vện ngủ dưới chân giường, thỉnh thoảng thở đều đặn trong giấc ngủ của một con chó nhà đã quen với yên bình. Ông thức dậy khi trời còn mờ sương, pha ấm trà, ngồi ở hiên nhà nhìn nước kinh rút dần để lộ ra hai bờ đất đen màu mỡ, và thấy lòng mình nhẹ nhõm theo một cách mà tiền bạc hay thắng thua ở đời không mang lại được.
Sáng hôm sau, Toàn tình cờ gặp cha ở hiên nhà khi ông đang chuẩn bị đồ vào rừng kiểm tra mồ sau mùa nước. Anh nhìn chiếc nanh trên cổ cha, rồi hỏi một câu thẳng thắn:
- Ba, bao giờ thì chiếc nanh về tay con?
Lượm nhìn con trai, ánh mắt già nua mà sáng rõ, đáp chậm rãi từng chữ:
- Khi nào con thuộc hết câu chuyện của nó. Bắt đầu từ năm 1968.
---