HEO LỤC NANH RỪNG U MINH - Chương 46: Lễ tạ tội (phần 1)
Đêm mười bốn tháng mười một xuống Đất Lính trong một sự yên tĩnh lạ lùng sau cả ngày mưa lớn. Mây tan dần, trăng cuối tháng mười âm lịch ló ra sau hàng…
Nội dung chương
Đêm mười bốn tháng mười một xuống Đất Lính trong một sự yên tĩnh lạ lùng sau cả ngày mưa lớn. Mây tan dần, trăng cuối tháng mười âm lịch ló ra sau hàng tràm, ánh sáng mờ đục phủ lên nấm mồ ướt sũng và mặt lung đen phía dưới gò. Nước quanh chân gò vẫn còn cao nhưng đã rút bớt so với buổi trưa, chảy chậm lại, không còn xoáy mạnh như lúc sáng.
Lễ tạ tội bắt đầu khi thầy Chín Hớn thắp nén nhang đầu tiên trên bàn thờ đặt sát đỉnh gò. Không có súng. Không có đèn pha. Chỉ có mấy cây đèn dầu đặt quanh bàn thờ và dọc lối lên mồ, ánh sáng vàng nhỏ bé run rẩy trong gió nhẹ, cùng mùi nhang thơm trộn mùi đất ướt và mùi nhựa tràm thoang thoảng từ rừng sâu.
Dân xóm ấp Kinh Ba tới dự đứng ở vòng ngoài phía sau lán thờ, im lặng tuyệt đối như đã dặn từ trước. Tổ kiểm lâm của Phúc đứng xa hơn nữa ở bìa trảng, giữ đường và giữ yên tĩnh, bộ đàm đã vặn nhỏ tới mức thấp nhất. Toàn đứng ở vị trí của mình gần chân gò, bên cạnh xuồng và đèn dầu dự trữ, mắt không rời khỏi cha mình ở giữa lễ. Con Vện nằm dưới chân Toàn, lặng lẽ, không sủa, không nhúc nhích.
Ở giữa, trước nấm mồ chung, ba người trẻ quỳ thành một hàng ngang trên nền đất ướt. Võ Văn Sang ở giữa. Bùi Thanh Phong bên trái. Nguyễn Văn Đạt bên phải, cánh tay bó bột đặt ngay ngắn trước ngực, đầu gối quỳ thẳng xuống bùn lạnh mà không một tiếng than. Phía sau họ một bước là Lượm, đứng thẳng, chiếc nanh bạc nằm ngay ngắn trên ngực áo sạch nhất ông mang theo vào rừng, hai tay chắp trước bụng, im lặng như một người chứng kiến. Thầy Hớn ngồi trên ghế đẩu bên bàn thờ, chủ lễ bằng giọng già chậm rãi mà rõ ràng giữa đêm rừng.
- Hôm nay, ngày mười bốn tháng mười một, thầy Hớn cất tiếng, chúng ta có mặt ở Đất Lính, trước mồ của hai mươi bảy liệt sĩ vô danh đã nằm ở đất này từ năm một ngàn chín trăm bảy mươi hai. Người sống làm sai thì người sống xin lỗi. Lễ này không cầu tài, không cầu lộc, không cầu phù hộ. Chỉ có một việc: nhận lỗi và xin cho người chết được nằm yên.
Ông ra hiệu. Sang cúi đầu, bắt đầu đọc đoạn khấn của mình. Giọng cậu ta vang lên chậm rãi giữa đêm, không lớn nhưng đủ để vòng ngoài nghe rõ từng chữ.
- Con là Võ Văn Sang, Sang đọc. Con đi làm thuê theo ngày, vì tiền công mà theo người ta vào rừng này. Con đã cầm cuốc đào đất ở đây. Con đã cầm bao hài cốt của các chú, các anh mà buông xuống nước. Lúc đó con sợ, con nghe lệnh, con không dám cãi. Nhưng sợ không phải là lý do để làm vậy với người đã chết. Các chú, các anh nằm yên ở đây hơn năm mươi năm, không làm gì con hết. Con đào lên là lỗi của con. Hôm nay con quỳ ở đây, con xin lỗi. Con đã vớt lại từng bao, con đã đắp lại mồ này bằng tay con. Từ nay con xin giữ mồ này yên, không để ai động vào nữa.
Sang dập đầu lạy ba lạy, trán chạm xuống đất ướt lạnh, rồi quỳ thẳng lại, nước mắt chảy dài trên mặt mà giọng vẫn giữ được cho tới chữ cuối.
Phong đọc tiếp đoạn của mình. Giọng cậu ta trẻ, run hơn Sang, nhưng không dừng lại giữa chừng.
- Con là Bùi Thanh Phong, Phong đọc. Con lái ghe máy chở người và máy vào rừng này. Con biết người ta vào đây làm chuyện sai mà con vẫn chở, vì con nghĩ mình chỉ là người lái ghe, không phải người đào. Tới khi con đứng ở đây thiệt, con mới hiểu không có cái gọi là đứng ngoài. Ghe của con chở máy đào mồ người ta, tay con cầm đèn soi cho người ta đào. Con cũng có lỗi như ai. Đêm đó con bị kéo chân dưới nước, được anh Sang cứu lên. Con còn sống tới bữa nay để quỳ ở đây là may mắn hơn hai người đã chết trong đất này. Con xin lỗi hai mươi bảy người nằm dưới mồ này. Con xin lỗi vì sự hèn nhát và ham vui của tuổi trẻ con. Xin cho con được góp tay giữ mồ này từ nay về sau.
Phong lạy xuống, vai run lên rõ rệt, nhưng cậu ta tự mình quỳ thẳng lại mà không cần ai đỡ.
Cuối cùng là Đạt. Cả gò mồ im lặng tới mức nghe rõ tiếng nước vỗ nhẹ dưới chân gò. Đạt cầm tờ khấn bằng tay trái, nhưng rồi anh ta gấp tờ giấy lại, đặt xuống đất trước mặt, quyết định đọc bằng trí nhớ và bằng lòng mình như thầy Hớn đã dặn hôm qua. Giọng anh ta khàn, chậm, từng câu đứt quãng.
- Con là Nguyễn Văn Đạt, Đạt nói. Con là thợ máy, em vợ của anh Hùng. Con theo anh rể vào rừng này vì tình thân, vì cần tiền chữa bệnh cho mẹ con. Con đã sửa máy xáng cho người ta đào đất này. Con đã có mặt trong những đêm đào sâu nhất. Con biết trong bao xương đó là người, mà con vẫn làm tiếp vì con sợ mất việc, sợ anh rể giận, sợ đủ thứ. Tới đêm đào lớn, con bị húc gãy tay này. Con tưởng vậy là con khổ lắm rồi. Nhưng nằm trong bệnh viện, con mới nghĩ ra người nằm dưới đất này còn khổ hơn con gấp trăm lần. Họ chết trẻ, nằm trong hố bom hơn năm mươi năm không ai biết tên, rồi bị chính tay tụi con đào lên, đổ xuống đầm như đổ rác.
Đọc tới đây, Đạt nghẹn lại đúng như hôm tập khấn. Anh ta dừng một lúc lâu, thở dốc, nước mắt chảy xuống cằm rơi trên cánh tay bó bột. Không ai thúc giục. Thầy Hớn ngồi yên. Lượm đứng yên. Sang và Phong quỳ yên bên cạnh. Rồi Đạt hít một hơi sâu, đọc tiếp cho tới hết, nhắc tới cái chết của Tài và của Hùng bằng giọng run rẩy mà rõ ràng:
- Con xin lỗi vì đã góp phần làm cho anh Tài và anh Hùng phải chết trong đất này. Nếu tụi con không vào đây đào, không ai phải chết hết. Con bỏ trốn hôm kia vì con sợ, con xin lỗi luôn chuyện đó. Hôm nay con về quỳ ở đây đủ mặt với anh em con. Con xin hai mươi bảy người nằm dưới đây tha thứ cho tụi con. Con không xin gì cho mình hết. Con chỉ xin từ nay mồ này được yên, rừng này được yên.
Đạt dập đầu lạy, một tay chống đất, người run lên, rồi quỳ thẳng lại trong im lặng. Ba người trẻ cùng cúi đầu trước nấm mồ, ba lời xin lỗi đã nói hết, không văn hoa, không giấu giếm, không đổ thừa cho ai khác.
Thầy Hớn gật đầu chậm rãi, thắp thêm một nén nhang, cắm lên bàn thờ.
- Lời đã nói hết, ông nói khẽ. Người sống đã nhận lỗi. Giờ thì im lặng. Để cho đất này nghe, và để cho chủ của đất này nghe.
Trước khi sự im lặng kéo dài, thầy Hớn nói thêm mấy lời cuối cùng của phần lễ do người sống chủ trì. Ông nhắc lại lệ cũ cho mọi người cùng nghe: mồ đã đắp xong, bia đã có tên, người đào đã quỳ đủ mặt, lời xin lỗi đã nói hết không giấu một câu. Phần của người sống tới đây là trọn. Phần còn lại không nằm trong tay người sống nữa. Ông dặn dù chuyện gì xảy ra tiếp theo, không ai được chen vào bằng tiếng la, bằng ánh đèn hay bằng hành động hấp tấp. Ai sợ quá thì nhắm mắt lại và quỳ yên, như vậy cũng là giữ lễ. Lượm nghe những lời đó mà lòng thầm cảm ơn ông già. Thầy Hớn đã soạn một buổi lễ không có một chút pháp thuật nào, chỉ có đất, nước, nhang khói và lời người, vậy mà chính sự giản dị đó lại làm cho đêm nay trang trọng hơn bất kỳ buổi lễ lớn nào ông từng thấy trong đời.
Cả gò mồ chìm vào im lặng tuyệt đối. Không ai nói thêm một lời. Chỉ còn tiếng đèn dầu cháy lép bép, tiếng nước vỗ nhẹ dưới chân gò và tiếng gió rất khẽ qua hàng tràm.
Chính trong sự im lặng đó, Lượm cảm thấy chiếc nanh trên ngực mình bắt đầu đổi khác. Nó không nóng ran như những lần báo điềm gở trước đây. Nó ấm lên từ từ, một hơi ấm lạ lùng lan ra da ngực ông, vừa đủ để ông biết có điều gì đang tới, nhưng không phải là sự đe dọa như mọi lần trước. Tay ông vô thức đặt lên chiếc nanh, giữ yên ở đó.
Rồi mặt Lung Sậy phía dưới gò bắt đầu động.
Không có gió. Trăng vẫn sáng mờ trên cao. Vậy mà trên mặt nước đen phẳng lặng của lung, từng vòng sóng lớn bắt đầu lan ra từ giữa lung, vòng sau lớn hơn vòng trước, đều đặn và nặng nề như có một vật khổng lồ đang di chuyển ngay dưới mặt nước. Mọi ngọn đèn dầu trên bàn thờ cùng lúc nghiêng về một phía, ngọn lửa kéo dài ra như có một hơi thở khổng lồ vừa đi qua gò mồ, dù không ai cảm thấy gió trên mặt mình.
Con Vện dưới chân Toàn cúp đuôi, nằm bẹp xuống đất không dám nhúc nhích. Toàn đứng chết lặng ở vị trí của mình, nhớ lời cha dặn mà không bước vào giữa lễ. Dân xóm ở vòng ngoài có người đưa tay lên miệng ngăn tiếng kêu sắp bật ra, rồi tự mình giữ im lặng như đã hứa.
Lượm bước lên nửa bước, đứng chắn giữa ba người đang quỳ và mé lung, giọng ông trầm xuống vừa đủ để mọi người trên gò nghe:
- Không ai chạy. Không ai la. Ngồi yên, quỳ yên. Nó tới để chứng kiến, không phải để hại mình. Nhớ lời thầy Hớn.
Ba người trẻ quỳ yên không nhúc nhích, dù vai họ run lên rõ rệt. Thầy Hớn ngồi yên trên ghế, hai tay đặt trên đầu gối, mắt nhìn thẳng ra mặt lung đang động.
Từ trong bóng tối dưới chân gò, một cái lưng đen khổng lồ phủ nhựa tràm từ từ trồi lên khỏi mặt lung, hướng thẳng về phía ánh đèn dầu của lễ.
---