HEO LỤC NANH RỪNG U MINH - Chương 43: Đưa bạn về quỳ

Ngày mười hai tháng mười một, Lượm thức dậy từ khi trời còn tối, ngồi ở hiên nhà nhìn ra kinh Tám Ngàn Nhỏ chờ tin. Con Vện nằm bên chân ông, tai thỉnh…

Nội dung chương

Ngày mười hai tháng mười một, Lượm thức dậy từ khi trời còn tối, ngồi ở hiên nhà nhìn ra kinh Tám Ngàn Nhỏ chờ tin. Con Vện nằm bên chân ông, tai thỉnh thoảng giật nhẹ theo tiếng ghe máy xa xa. Mỗi lần có tiếng máy từ hướng bến xã vọng lại, ông lại ngẩng đầu. Nhưng hết buổi sáng vẫn không thấy ghe của Toàn quay về, cũng không có ai chạy tới báo tin.

Ở nhà, Phúc và Toàn lo phần hậu cần cho đêm lễ theo đúng kế hoạch đã chốt. Toàn kiểm tra lại hai chiếc xuồng ba lá, một ghe máy nhỏ, mấy cây đèn dầu, dầu lửa dự trữ, nhang, giấy khấn và mấy tấm bạt phòng mưa. Anh xếp tất cả gọn gàng dưới mái hiên nhà Lượm, ghi lại từng món vào cuốn sổ nhỏ để khỏi thiếu sót vào phút chót. Phúc thì gọi điện về trạm, dặn vòng ngoài đêm mười bốn chỉ đứng ở bìa trảng, mang theo đèn pin thường và bộ đàm, tuyệt đối không mang súng, không dùng đèn pha công suất lớn. Anh nhắc đi nhắc lại hai lần, như sợ chỉ một ánh đèn pha quét vào mặt lung cũng đủ làm hỏng hết mọi việc.

- Đêm đó ai nóng nảy là hỏng hết, Phúc nói với Lượm. Tôi đã dặn kỹ rồi. Người ở vòng ngoài chỉ giữ im lặng và giữ đường rút khi cần. Còn ở giữa lễ, chỉ có mấy người trong danh sách thầy Hớn soạn.

Lượm gật đầu, nhưng mắt vẫn hướng ra kinh. Ông nghĩ tới Sang. Thanh niên đó ra đi từ tối hôm trước với một ba lô nhẹ và lời dặn của ông: đưa bạn về bằng cái tình. Ông không biết Sang đã tìm thấy Đạt chưa, và nếu tìm thấy thì Đạt có chịu nghe hay không. Một người đã quyết bỏ trốn vì sợ thường rất khó quay đầu, nhất là khi nỗi sợ đó gắn với một cánh tay gãy và những đêm mất ngủ triền miên.

Quá trưa, mây đen bắt đầu kéo về từ phía rừng sâu, sớm hơn dự báo thời tiết buổi sáng. Gió đổi hướng, mang theo hơi nước nặng và mùi lá mục. Tám Rắn chống gậy qua nhà, ngồi xuống bậc thềm nhìn trời.

- Mây kiểu này là mưa lớn đó, ông nói. Mưa cuối mùa mà gặp nước đang dâng nữa thì cực lắm. Anh tính sao cho đêm mười bốn đây?

- Mưa cũng làm, Lượm đáp. Không còn ngày nào khác.

Tám Rắn gật gù, không nói thêm. Ông già hiểu rõ cái thế kẹt của bạn mình hơn ai hết.

Mãi tới gần cuối buổi chiều, tiếng ghe máy mới vọng lại từ khúc quanh của kinh, quen thuộc là tiếng máy của ghe Toàn. Lượm đứng bật dậy, bước nhanh ra bến. Con Vện chạy theo, đuôi vẫy mừng. Ghe cập bến trong ánh chiều xám xịt. Toàn ngồi ở lái. Sang ngồi ở giữa, áo ướt mồ hôi và nước mưa lất phất. Và ngồi ở mũi ghe, co người lại với cánh tay bó bột treo trước ngực và túi đồ nhỏ ôm trong lòng, là Đạt.

Lượm không nói gì ngay. Ông chỉ đứng trên bến nhìn Đạt bước lên bờ, chân còn run, mặt hốc hác sau một đêm không ngủ. Đạt vừa chạm đất đã đi thẳng tới trước mặt ông, rồi bất ngờ quỳ sụp xuống ngay trên nền sân đất ướt trước hiên nhà, trước cả khi kịp vào trong, trước cả khi nói một lời nào với người chết ở Đất Lính.

- Con xin lỗi chú, Đạt bật khóc, giọng vỡ ra. Con hèn quá. Con đào mồ người ta, con đổ xương xuống nước, tới ngày quỳ thì con chạy. Con xin lỗi chú. Chú đừng bỏ con ra khỏi lễ. Cho con được quỳ đêm mười bốn, chú ơi.

Mấy người trong sân đều lặng đi. Toàn đứng sau lưng cha, mắt cũng đỏ. Sang đứng bên cạnh Đạt, tay đặt nhẹ lên vai bạn, không đỡ dậy, cũng không nói thay.

Lượm cúi xuống, nắm lấy cánh tay lành của Đạt, đỡ anh ta đứng lên một cách chậm rãi và chắc chắn. Ông phủi đất ướt dính trên đầu gối quần của anh ta.

- Để dành cái quỳ đó cho đêm lễ, Lượm nói, giọng trầm và rõ. Ở đây không ai cần anh quỳ hết. Đứng lên. Vào nhà uống nước, ăn cơm, rồi kể tôi nghe anh đã nghĩ thông chuyện gì.

Trong bữa cơm chiều đơn giản ở nhà Lượm, Sang mới kể lại chuyến đi tìm bạn, theo lời Lượm hỏi. Câu chuyện được kể chậm rãi, không thêm thắt, và Lượm nghe không sót một chi tiết nào.

Sang nói cậu ta tìm thấy Đạt ở bến xe huyện U Minh vào sáng sớm hôm nay. Đạt ngồi co ro trên hàng ghế nhựa trong phòng chờ, cánh tay bó bột đặt trên túi đồ, mắt nhìn trân trân vào bảng giờ xe mà không thật sự đọc. Chuyến xe về hướng thành phố Cà Mau đã qua một chuyến, chuyến tiếp theo sắp tới giờ, vậy mà Đạt vẫn chưa mua vé. Anh ta cứ ngồi đó từ chiều hôm trước, đi ra đi vào, uống hết mấy ly trà đá ở quán nước ven bến, rồi lại quay vào ghế ngồi, như một người muốn chạy mà chân không bước nổi.

Sang không lao vào chửi, cũng không nắm áo lôi đi. Cậu ta chỉ ngồi xuống ghế bên cạnh, mua hai ly trà đá, đưa cho bạn một ly, rồi ngồi im lặng một lúc lâu như hai người bạn chờ xe bình thường. Mãi sau Sang mới mở lời, kể chuyện những ngày vớt hài cốt mà Đạt đã bỏ lỡ một phần. Sang kể từng bao xương được mò lên khỏi bùn đen ra sao, được rửa sạch bằng nước kinh ra sao, được xếp ngay ngắn trên tấm bạt trắng ra sao. Sang kể tới bao cuối cùng bị buộc đá chìm ở rìa Lung Sậy, kể tới lúc cả đoàn nín thở vớt lên, và kể tới chuyện con thú đi song song với xuồng của đoàn lúc rút ra, lặng lẽ như tiễn người của nó về đất.

- Tôi nói với nó một câu thôi, chú, Sang kể, nhìn xuống bàn tay mình. Tôi nói người chết không đòi gì ngoài được nằm yên. Họ nằm yên nửa thế kỷ rồi, mình đào họ lên, giờ mình chỉ cần trả họ về chỗ yên đó và quỳ xuống một lần cho đàng hoàng. Quỳ xong, mình không hết tội với pháp luật, nhưng mình đặt được cái nặng trong lòng xuống. Còn chạy thì chạy tới đâu cũng mang theo.

Theo lời Sang, Đạt nghe xong khóc rất lâu ở quán nước ven bến, khóc đến mức chủ quán phải nhìn sang mấy lần. Anh ta nói mình sợ con thú, sợ tới mức nghe tiếng nước vỗ vào bờ cũng giật mình. Nhưng anh ta sợ hơn nữa một chuyện khác: sợ sống hết đời với hình ảnh những bao xương trắng mình đã buông xuống mặt đầm đen. Sang không dọa, không nhắc tới chuyện vi phạm quản lý, chỉ nói một câu cuối: lễ thiếu một người là không trọn, và hai người còn lại không muốn quỳ một buổi lễ dở dang như vậy.

Đạt đồng ý quay về ngay sau đó. Trên đường ghe về ấp, anh ta ngồi im lặng gần hết chuyến, chỉ thỉnh thoảng nhìn cánh tay bó bột của mình rồi nhìn ra rừng tràm lùi dần hai bên kinh.

Nghe xong câu chuyện, Lượm nhìn Sang hồi lâu. Ông thấy ở thanh niên này một sự thay đổi trọn vẹn mà tiền công ngày xưa không bao giờ mua được. Sang từng là lao động thuê làm theo lệnh, câm lặng khiêng máy và đào đất. Giờ đây cậu ta là người đi tìm bạn về không bằng nắm đấm mà bằng lời lẽ của một người đã tự mình vớt xương và tự mình hiểu ra.

- Anh làm đúng như tôi dặn, Lượm nói. Đưa người ta về bằng cái tình thì người ta mới ở lại được.

Đêm đó, Đạt ngủ lại ở nhà Lượm, trên chiếc giường tre trong gian buồng nhỏ. Trước khi ngủ, anh ta xin Lượm cho xem lại bài khấn thầy Hớn soạn. Anh ta đọc chậm bằng giọng khàn, tay trái lần theo từng dòng chữ, đọc tới đoạn nhắc tới hai người đã chết là Tài và Hùng thì dừng lại một lúc, rồi đọc tiếp cho tới hết. Lượm ngồi ở bàn ngoài nghe, không chen vào.

Sau bữa cơm, Lượm gọi cả ba người trẻ ngồi lại ở bàn giữa để nói rõ việc đêm mười bốn, lần đầu tiên đủ mặt cả ba kể từ khi Đạt bỏ đi. Ông nói chậm, không trách móc thêm một lời nào về chuyện bỏ trốn. Chuyện đã qua thì cho qua, ông nói, quan trọng là đêm lễ phải làm cho trọn. Sang sẽ đọc đoạn khấn đầu, Phong đọc đoạn giữa, Đạt đọc đoạn cuối, đúng như thầy Hớn đã chia. Ai cũng phải thuộc lòng, hiểu mình đọc gì, không ai đọc thay ai. Đạt nghe tới phần của mình thì gật đầu liên tục, tay trái nắm chặt mép bàn. Phong, người ít nói nhất trong ba người, bỗng lên tiếng xin được phụ trách phần thắp nhang trên bàn thờ trước khi quỳ, vì trong đêm đào lớn chính cậu ta là người đã cầm đèn soi cho máy xáng đào xuống. Lượm đồng ý. Ông nhìn ba gương mặt trẻ trước mặt mình, một người tay gãy, một người từng suýt bị kéo chìm dưới đầm, một người từng lén đi đầu thú đầu tiên. Và thấy trong họ một nỗi sợ vẫn còn nguyên nhưng đã có thêm một thứ khác lớn hơn nỗi sợ: ý muốn trả cho xong món nợ mình đã gây ra.

Phúc tranh thủ lúc đó phổ biến lần cuối vòng ngoài. Kiểm lâm sẽ có mặt từ xế chiều ngày mười bốn ở bìa trảng, giữ khoảng cách với gò mồ, liên lạc bằng bộ đàm để âm lượng nhỏ nhất. Dân xóm dự lễ đứng sau lán thờ, không ai được tự ý tiến ra mé lung khi có động. Toàn sẽ phụ trách xuồng và đèn dầu dự trữ ở chân gò, không rời vị trí trừ khi Lượm gọi. Mọi việc nghe qua tưởng đơn giản, nhưng ai cũng hiểu chỉ cần một người hoảng loạn bỏ chạy hay la lớn vào đúng lúc con thú xuất hiện, mọi thứ có thể đổ vỡ không cứu lại được.

Ngoài trời, mây đen đã phủ kín bầu trời sớm hơn mọi dự báo. Gió bắt đầu quật mạnh qua hàng tràm sau nhà, mang theo những hạt mưa đầu tiên gõ lộp độp trên mái lá. Phúc đứng ở hiên gọi điện về trạm, giọng lo lắng khi nghe báo mực nước ở các con kinh quanh Đất Lính đang lên nhanh.

Đạt đã về, đủ mặt ba người cho đêm lễ. Nhưng khi Lượm bước ra hiên nhìn trời đêm đen đặc và mặt kinh dâng cao lấp xấp mép bến, ông biết thử thách lớn nhất của những ngày tới có lẽ không nằm ở lòng người nữa. Nó nằm ở nước, ở mưa, và ở một mùa nước nổi đang dồn hết sức cuối cùng của nó vào đúng những ngày quyết định nhất.

---

Chương khác

Xem thêm