HEO LỤC NANH RỪNG U MINH - Chương 42: Đạt bỏ trốn

Ngày mười một tháng mười một, nấm mồ chung trên gò cao Đất Lính chính thức đắp xong. Từ sáng sớm, Lượm cùng Sang, Phong và mấy người trong xóm đã thay…

Nội dung chương

Ngày mười một tháng mười một, nấm mồ chung trên gò cao Đất Lính chính thức đắp xong. Từ sáng sớm, Lượm cùng Sang, Phong và mấy người trong xóm đã thay nhau khiêng đất sét từ mé kinh vào, đắp thêm lớp cuối cùng lên mặt mồ, vỗ cho chặt, cắm cọc tràm quanh chân mồ để giữ đất khỏi trôi. Đến trưa, nấm mồ dài nằm ngay ngắn trên đỉnh gò, mặt đất còn ướt, mùi đất mới thơm nồng dưới nắng.

Ngay dưới chân gò, tấm bia đá tạm được dựng lên. Bia không lớn, do thợ trong xã khắc tay vội trong hai ngày, nét chữ còn thô nhưng rõ ràng, đọc được từng chữ: Nơi yên nghỉ của 27 liệt sĩ vô danh, Đất Lính, U Minh Hạ. Phúc đứng trước bia hồi lâu, chụp ảnh, ghi vào biên bản. Ông nói huyện đã nhận hồ sơ, bia chính thức bằng đá lớn sẽ làm sau, còn tấm bia tạm này đủ để đêm lễ có một tên gọi đàng hoàng cho người nằm dưới, đúng như lời thầy Hớn dặn.

Buổi chiều, cả đoàn ngồi lại dưới lán thờ tạm để chốt ngày lễ. Lịch đã tính từ trước: đêm mười bốn tháng mười một. Lượm giải thích cho mọi người nghe lý do chọn đêm đó. Nước trong rừng sẽ rút bớt được một phần so với đỉnh mùa, đường xuồng vào Đất Lính đỡ nguy hiểm hơn. Trăng vào những ngày đó cũng sáng hơn, đủ để đi lại trong rừng mà không cần đèn pha. Và quan trọng nhất, đêm mười bốn là đêm cuối cùng còn nằm trong thời hạn tạm dừng. Sáng mười lăm, lệnh xử lý thú dữ bằng thuốc nổ sẽ có hiệu lực trở lại nếu mọi việc không xong. Không còn đêm nào khác để chọn.

- Vậy là chốt đêm mười bốn, Phúc nói, đóng sổ lại. Tôi báo cáo huyện đúng ngày đó. Vòng ngoài tôi bố trí từ chiều. Mọi người còn lại tập trung ôn bài khấn với thầy Hớn vào ngày mười ba.

Sang gật đầu. Phong cũng gật đầu. Chỉ có một chiếc ghế trống trong lán. Đạt không có mặt.

Từ sáng, Đạt đã nói đau tay, xin ở lại nhà trọ trong xã nghỉ một ngày. Lượm không ép. Cánh tay phải bó bột của anh ta đã sờn mép, lớp bột long ra từng mảng, trời trở mưa là nhức buốt. Lượm nghĩ để anh ta nghỉ một buổi cũng tốt, lấy sức cho những ngày tới. Nhưng tới khi đoàn từ rừng trở ra vào cuối buổi chiều, ghé qua nhà trọ ở xã Khánh An, chủ nhà trọ nói một câu làm Lượm đứng sững ở bậc thềm.

- Anh Đạt trả phòng hồi xế trưa rồi chú. Anh gửi lại cái này, nói nhờ đưa cho chú Lượm.

Chủ nhà trọ đưa ra một tờ giấy học trò gấp đôi, nét chữ nguệch ngoạc viết bằng tay trái. Lượm mở ra đọc ngay dưới mái hiên, trong tiếng mưa lất phất bắt đầu rơi trên mái tôn.

Chữ viết run và khó đọc, nhưng ý thì rõ ràng đau đớn. Đạt xin lỗi. Anh ta viết mình không đủ can đảm đối mặt con thú lần nữa. Đêm nào nhắm mắt anh ta cũng thấy mặt nước đen của Lung Sậy trồi lên một cái lưng khổng lồ, nghe tiếng thở phì phò bên tai, thấy lại cảnh mình bị húc văng trong đêm đào lớn, cánh tay gãy gập lại đau tới ngất đi. Anh ta viết mình sợ đêm lễ sẽ bỏ chạy giữa chừng, làm hỏng lễ của mọi người, làm người chết thêm tủi. Anh ta xin đi xa một thời gian, khi nào qua được nỗi sợ sẽ về thắp nhang sau. Cuối tờ giấy chỉ có một dòng: em xin lỗi chú, xin lỗi anh Sang, xin lỗi mọi người nằm dưới đất đó.

Lượm gấp tờ giấy lại, bỏ vào túi áo. Cổ họng ông nghẹn lại. Ông không giận ngay lúc đó. Ông chỉ thấy một nỗi buồn nặng trĩu, như người nhìn một con xuồng đã biết trước là sẽ lật mà không kịp giữ.

Phúc hỏi dồn:

- Anh ta đi hướng nào? Có ai thấy không?

Chủ nhà trọ nói Đạt ôm túi đồ nhỏ, tay bó bột treo trước ngực, ra đầu đường đón xe ôm. Người xe ôm quen trong xóm sau đó kể lại, Đạt nhờ chở ra bến và hỏi chuyến xe đò về hướng thành phố Cà Mau chuyến chiều. Tính tới giờ này, có thể anh ta đã lên xe, cũng có thể còn quanh quẩn ở bến huyện chưa dám đi.

Tin đó làm không khí trong nhà trọ chùng xuống hẳn. Sang đứng ở góc phòng, mặt tối sầm. Cậu ta là người đã cùng Đạt trải qua đêm đào lớn, cùng kéo Phong lên khỏi mặt nước khi ma da nắm chân, cùng đầu thú, cùng vớt hài cốt suốt mấy ngày qua. Nghe tin bạn bỏ trốn, Sang nổi giận trước tiên.

- Nó tính bỏ hết cho ai quỳ đây? Sang nói lớn. Tụi mình cùng đào, cùng đổ xương xuống đầm. Giờ tới ngày quỳ thì nó chạy. Vậy hai đứa tôi quỳ có nghĩa gì nữa?

Phong ngồi trên giường trống của Đạt, hai tay đan vào nhau, không nói. Một lúc sau cậu ta mới lên tiếng, giọng nhỏ:

- Nó sợ thiệt đó anh Sang. Mấy đêm nay nó ngủ không được. Nửa đêm nó ngồi dậy, nhìn cánh tay bó bột rồi khóc. Tôi nằm phòng bên nghe rõ. Nó không phải đứa hèn từ đầu. Nó chỉ là sợ quá chịu không nổi nữa.

Lượm ngồi xuống chiếc ghế nhựa trong phòng trọ, nhìn khoảng giường trống còn in vết nằm. Ông nhớ lại lời thầy Hớn hai hôm trước: thiếu một người là lễ không trọn. Lời đó giờ thành sự thật ngay trước mắt. Lễ tạ tội không phải buổi trình diễn cho huyện xem. Nó là lời xin lỗi của đúng những người đã gây ra chuyện. Thiếu Đạt, lời xin lỗi thiếu mất một phần, phần của người thợ máy đã theo anh rể vào rừng, đã có mặt trong những đêm đào sâu nhất vào lòng hố bom.

Phúc đi ra ngoài gọi điện thoại một lúc rồi quay vào, giọng dứt khoát:

- Về thủ tục, Đạt đang trong diện quản lý sau đầu thú. Bỏ đi như vậy là vi phạm. Tôi có thể báo và cho người tìm về theo quy định. Nhưng làm vậy thì đêm lễ nó quỳ cũng là quỳ vì bị bắt về, không phải tự nó muốn. Tôi nói thẳng để mọi người tính.

Lượm lắc đầu chậm rãi.

- Đừng làm vậy vội, ông nói. Bắt về được cái người, không bắt về được cái lòng. Đêm lễ mà nó quỳ trong oán giận và sợ hãi cực độ thì cũng không trọn. Phải có người đi nói chuyện với nó đàng hoàng.

Sang bỗng đứng thẳng dậy. Cơn giận trên mặt cậu ta đã lắng xuống, thay bằng một vẻ lặng đi rất lạ, giống hệt vẻ mặt của cậu ta hôm lén tìm gặp Lượm ở đầu kinh để kể chuyện Tài chết.

- Để tôi đi, Sang nói. Cho tôi một ngày. Tôi đi tìm nó về. Tôi biết tính nó. Nó chưa đi xa được đâu. Người đang sợ như vậy thường chỉ chạy tới bến xe rồi ngồi đó, chớ chưa chắc dám bước lên xe đi thiệt.

Phúc nhìn Sang, cân nhắc.

- Một ngày thôi, Phúc nói. Tới chiều mai không có tin thì tôi phải làm theo quy định. Anh đi bằng gì?

- Ghe của Toàn, Sang đáp. Tôi chạy ra bến huyện trước, hỏi thăm dọc đường. Tìm không thấy ở bến thì tôi hỏi các quán nước ven lộ, hỏi nhà người quen của nó ở hướng Cà Mau.

Lượm đứng dậy, đặt tay lên vai Sang. Bàn tay ông già gầy và chai sạn, nhưng chắc.

- Đi đi, Lượm nói. Nhớ một câu của tôi thôi. Đưa nó về bằng cái tình, không phải bằng dọa nạt. Không chửi nó hèn. Không lôi pháp luật ra hù nó. Nó đã sợ đủ rồi. Anh nói cho nó hiểu vì sao phải quỳ, và quỳ xong thì nhẹ được cái gì. Nó hiểu thì nó tự về.

Sang gật đầu, mắt đỏ hoe nhưng giọng chắc:

- Tôi hiểu, chú. Tôi cũng từng muốn bỏ chạy. Hôm đầu thú xong tôi cũng sợ. Nhưng rồi tôi vớt từng bao xương lên, tôi mới biết chạy đi đâu cũng mang theo mấy bao xương đó trong đầu. Chỉ có quỳ xuống mới đặt xuống được.

Trong lúc chờ Toàn chạy ghe tới, Lượm ngồi lặng ở hiên nhà trọ nhìn ra đường lộ ướt mưa. Trong đầu ông cứ trở đi trở lại hình ảnh Đạt ở bệnh viện huyện, cánh tay bó bột trắng toát trên nền ga giường cũ, và câu nói của anh ta hôm đó về Hùng. Đạt không phải người xấu. Anh ta đi vào rừng vì anh rể, vì món tiền chữa bệnh cho mẹ già, rồi bị cuốn vào một việc vượt xa sức chịu đựng của mình. Ông hiểu nỗi sợ đó. Chính ông, một thợ săn đi rừng gần hết đời người, cũng có những đêm nghe tiếng thở ở Lung Sậy mà buốt dọc lưng.

Ông tự hỏi nếu Sang tìm không kịp thì đêm mười bốn sẽ ra sao. Làm lễ thiếu người thì có lỗi với người chết. Hoãn lễ thì qua hạn mười lăm, thuốc nổ sẽ xuống lung, và mọi công sức vớt xương, đắp mồ suốt mười ngày qua sẽ tan thành tro bụi. Cả hai con đường đều nặng. Lần đầu tiên trong nhiều ngày, Lượm thấy mình thật sự bị dồn vào một góc hẹp không có lối thoát đẹp đẽ nào, chỉ còn biết trông vào một thanh niên hai mươi tám tuổi chạy ghe trong đêm đi tìm bạn mình về bằng lời lẽ tử tế.

Trời tối hẳn khi Sang chuẩn bị đi. Mưa đã tạnh, đường trong xã ướt và lầy. Toàn chạy ghe tới đón ở bến nhỏ sau nhà trọ, mang theo đèn dầu, áo mưa và một ba lô quần áo khô cho Sang. Phong tiễn bạn ra tới mé nước, đứng lại nhìn theo, hai tay nắm chặt.

Trước khi bước xuống ghe, Sang quay lại nói với Phong một câu, giọng không lớn nhưng đủ để Lượm đứng trên bờ nghe rõ từng chữ:

- Tụi mình đào lên thì tụi mình phải quỳ xuống lấp lại. Thiếu một đứa cũng không được.

Ghe máy nổ giòn trong đêm, vệt sóng trắng xóa sau lái rồi tan dần vào mặt kinh đen. Lượm đứng trên bến nhìn theo cho tới khi tiếng máy khuất hẳn sau khúc quanh đầy tràm. Trên cổ ông, chiếc nanh vẫn lạnh ngắt. Chỉ còn ba ngày nữa là tới đêm lễ. Một chiếc ghế trong lán thờ đang trống, và người ngồi vào chiếc ghế đó giờ đang ở đâu đó trên đường về hướng Cà Mau, với một cánh tay bó bột và một nỗi sợ chưa có lối ra.

---

Chương khác

Xem thêm