HEO LỤC NANH RỪNG U MINH - Chương 41: Lệ cũ của thầy Hớn

Sáng ngày chín tháng mười một, nước trong kinh Tám Ngàn Nhỏ vẫn cao ngang mạn xuồng, đục màu phù sa và lặng lờ trôi giữa hai hàng tràm. Lượm chống sào…

Nội dung chương

Sáng ngày chín tháng mười một, nước trong kinh Tám Ngàn Nhỏ vẫn cao ngang mạn xuồng, đục màu phù sa và lặng lờ trôi giữa hai hàng tràm. Lượm chống sào đưa xuồng vào Đất Lính từ sớm, ngồi ở mũi là thầy Chín Hớn. Ông già tám mươi hai tuổi mặc áo bà ba đã bạc, tay ôm cây gậy tre, mắt nheo lại nhìn rừng như nhìn một người quen lâu ngày không gặp. Phía sau, Phúc chạy ghe máy nhỏ theo sau, trên ghe có Sang và Phong, cả hai đều im lặng khác hẳn những ngày đầu mới vào rừng.

Gò mồ chung đã thành hình từ hai hôm trước. Đất đắp cao, mặt mồ còn mới, mùi đất ướt trộn mùi lá tràm mục bốc lên ngai ngái dưới nắng sớm. Hai mươi bảy bộ hài cốt đã nằm yên dưới đó, phủ vải trắng, xếp theo thứ tự kiểm đếm của Phúc. Lán thờ tạm dựng dưới chân gò bằng bốn cọc tràm và tấm bạt cũ, trên bàn thờ chỉ có mấy nén nhang, một đĩa muối và chén nước trong. Chưa có hoa, chưa có gì gọi là lễ.

Thầy Hớn chống gậy bước lên gò rất chậm. Chân ông yếu, mỗi bậc đất phải dừng lại thở một nhịp, nhưng ông không cho ai dìu. Lên tới đỉnh gò, ông đứng lặng hồi lâu, nhìn xuống mặt lung đen phía Lung Sậy, rồi quay lại nhìn nấm mồ dài dưới chân mình. Gió sớm thổi qua, mấy cây tràm non quanh gò rung nhẹ.

- Đất này chọn đúng chỗ rồi, thầy Hớn nói. Cao, khô, lưng tựa rừng, mặt ngó ra lung. Người xưa nằm cũng chọn kiểu vậy. Nằm ở đây thì yên.

Phúc mở sổ tay, ghi chép theo thói quen của người làm biên bản. Lượm đứng bên cạnh, tay vô thức đặt lên chiếc nanh trước ngực. Nanh lạnh ngắt, lạnh như mọi ngày từ hôm mùng hai tới giờ. Sự lạnh lẽo đó không làm ông yên lòng. Nó giống như mặt nước phẳng lặng trước khi có chuyện.

Thầy Hớn đi một vòng quanh mồ, gậy tre gõ nhẹ lên mặt đất ở bốn góc. Ông cúi xuống bốc một nắm đất, bóp trong tay rồi thả rơi.

- Đất còn non, ông nói. Mới đắp thì phải giữ. Mưa lớn một trận là trôi. Mấy bữa nay phải thay nhau coi, đắp thêm đất sét ở chân mồ, cắm cọc tràm giữ lại. Mồ chưa vững mà làm lễ thì cũng như lời xin lỗi nói chưa tới nơi.

Sang nghe vậy liền gật đầu. Mấy ngày vớt hài cốt và đắp mồ, Sang là người làm nhiều nhất trong ba người sống sót. Tay cậu ta chai sần, móng tay còn dính bùn đen rửa chưa sạch. Phong đứng sau, ít nói, thỉnh thoảng lại nhìn về phía lung như sợ mặt nước động.

Thầy Hớn ngồi xuống chiếc ghế đẩu Phúc mang theo, thở ra một hơi dài rồi mới vào chuyện chính. Ông nói chậm, từng câu rõ ràng, như sợ người nghe bỏ sót một chữ.

- Lễ tạ tội này, tôi soạn theo lệ cũ của dân U Minh mình, ông nói. Không phải pháp thuật. Không có trấn yểm gì hết. Người sống làm sai với người chết thì phải sửa bằng việc của người sống. Nghe cho kỹ, ba điều.

Ông giơ một ngón tay khô gầy.

- Một là người đã đào phải tự quỳ. Ai cầm cuốc đào, ai cầm bao đổ xuống đầm, người đó phải quỳ trước mồ mà xin lỗi. Đủ mặt, không thiếu một ai. Không ai quỳ thay được. Không ai đọc thay được. Thiếu một người là lễ không trọn, lời xin lỗi còn dở dang.

Phong cúi đầu. Sang nhìn thẳng về phía mồ, môi mím chặt. Lượm biết cả hai đang nghĩ tới Đạt. Đạt vẫn còn ở nhà trọ trong xã, tay phải bó bột, từ hôm xuất viện tới giờ ít ra rừng, mỗi lần nhắc tới đêm lễ là mặt tái đi.

Thầy Hớn giơ ngón tay thứ hai.

- Hai là mồ phải đắp cho xong, bia phải có tên gọi đàng hoàng. Người ta nằm dưới đó không phải đất hoang, không phải gò vô chủ. Hai mươi bảy người, dù chưa biết hết tên, cũng phải có một chỗ gọi là nơi yên nghỉ, có bia, có người nhớ. Làm lễ trên một nấm mồ đắp dở thì không được.

Ngón tay thứ ba giơ lên, ông nhìn thẳng vào Lượm.

- Ba là đêm lễ, chiếc nanh không được rời cổ anh, Lượm. Nghe rõ đây. Không phải vì bùa mạnh. Bùa trên nanh chỉ giữ cho người đeo được yên, báo điềm bằng nóng lạnh, chớ không sai khiến được ai hết. Thầy Sáu ngày xưa đã dặn kỹ vậy. Đêm đó anh đeo nanh là để nếu nó còn nhớ chuyện xưa như lời ông nội anh kể, nó sẽ nhận ra người nhà. Anh là người duy nhất nó có thể nghe được, theo cái nghĩa nó chịu dừng lại mà nhìn. Anh mà tháo nanh ra, hay đưa cho người khác đeo, là mất hết ý nghĩa.

Lượm gật đầu chậm rãi. Ông đã đeo chiếc nanh này từ năm hai ngàn mười lăm, khi cha ông là Trần Văn Bảy trao lại trên giường bệnh. Trước đó ông nội Kỉnh đeo nó suốt từ năm một ngàn chín trăm bảy mươi lăm. Ông chưa từng tháo ra trừ khi ngủ, và chưa từng nghĩ có một đêm chiếc nanh lại quan trọng tới vậy, không phải như một lá bùa, mà như một bằng chứng của một món nợ cũ.

- Tôi hiểu, Lượm nói. Đêm đó nanh ở trên cổ tôi. Tôi đứng ở bờ mồ. Có chuyện gì tôi chịu trước.

Thầy Hớn lắc đầu.

- Không phải chịu theo kiểu liều mạng. Đêm lễ không ai được mang súng. Không đèn pha lớn chĩa vào lung. Chỉ đèn dầu, nhang và tiếng người. Mang súng vào là mang cái ý muốn giết vào một buổi lễ xin lỗi. Con thú nó ngửi được cái ý đó trước khi nó thấy người. Phúc, anh nghe rõ chưa?

Phúc gật đầu, ghi thêm một dòng vào sổ.

- Tôi sẽ bố trí vòng ngoài ở xa, Phúc nói. Người của trạm đứng ngoài bìa trảng, không mang vũ khí vào khu lễ. Dân xóm ai dự thì đứng sau lán thờ, giữ im lặng. Tôi ghi hết vào kế hoạch để báo cáo huyện.

Thầy Hớn lấy trong túi áo ra một tờ giấy gấp tư, nét chữ run run nhưng rõ ràng. Đó là bài khấn ông đã soạn sẵn ở nhà, viết bằng lời thường, không văn hoa, không chữ Hán khó hiểu.

- Bài khấn này, ba đứa nó phải đọc, ông nói, đưa tờ giấy cho Lượm. Mỗi đứa đọc một đoạn, đọc chậm, đọc cho người chết nghe, cũng là đọc cho chính mình nghe. Không đọc như trả bài thuộc lòng. Phải hiểu mình đang xin lỗi chuyện gì. Mình đào mồ người ta lên. Mình đổ xương người ta xuống nước. Mình làm vậy vì tiền, vì sợ, vì nghe lời người khác. Nói hết, không giấu, không đổ thừa.

Lượm cầm tờ giấy, đọc thầm mấy dòng đầu. Lời khấn mở đầu bằng ngày tháng, bằng tên Đất Lính, bằng con số hai mươi bảy. Không có câu nào cầu xin phù hộ hay cầu tài lộc. Chỉ có lời nhận lỗi và lời hứa giữ mồ yên.

- Lời lẽ vậy là phải, Lượm nói khẽ. Người chết nằm yên nửa thế kỷ, bị đào lên, chỉ cần nghe bấy nhiêu thôi.

Giữa buổi sáng, nắng lên cao, mặt lung phía xa loang loáng như một tấm gương mờ. Con Vện nằm dưới bóng tràm gần chân gò, đuôi thỉnh thoảng phe phẩy đuổi ruồi. Nó bình thản, không có dấu hiệu gì bất thường. Lượm nhìn nó một lúc, lòng cũng dịu xuống một phần.

Thầy Hớn dặn thêm chuyện nhỏ mà không ai nghĩ tới. Đêm lễ phải có nước sạch để rửa tay trước khi quỳ. Phải có một mâm cơm đạm bạc đặt trên bàn thờ, cơm trắng, cá khô, muối, như bữa ăn của người lính năm xưa. Không mâm cao cỗ đầy. Người chết năm đó ăn khổ, nằm khổ, lễ giàu sang quá lại thành phô trương.

- Lễ này là lễ của người thường, thầy Hớn nhắc lại lần nữa. Quỳ lạy là việc của người thường. Khấn xin lỗi là việc của người thường. Đắp mồ là việc của người thường. Trời đất chứng giám ở chỗ lòng người có thật hay không, chớ không ở chỗ bùa phép mạnh hay yếu.

Sang bỗng lên tiếng, giọng khàn.

- Thưa thầy, còn Đạt thì sao? Tay nó bó bột, quỳ có được không? Nó quỳ bằng một tay chống thì có gọi là trọn không?

Thầy Hớn nhìn Sang, ánh mắt già nua mà sáng.

- Quỳ là ở cái đầu gối và cái lòng, không phải ở cánh tay. Nó quỳ xuống được, đọc được lời xin lỗi của nó, là trọn. Cái khó không phải cánh tay gãy. Cái khó là nó có dám tới đây quỳ hay không. Mấy hôm nay tôi thấy nó né tránh. Anh Lượm, anh để mắt tới nó. Thiếu nó là thiếu hẳn một phần của đêm lễ.

Lời đó rơi vào im lặng. Lượm nhớ tới Đạt những ngày ở bệnh viện, nhớ cánh tay phải bó bột trắng, nhớ ánh mắt hoảng loạn mỗi khi có ai nhắc tới con thú. Đạt là em vợ của Hùng, đi theo anh rể vì tình thân và vì cần tiền chữa bệnh cho mẹ. Trong ba người sống sót, Đạt là người sợ nhất, cũng là người hối hận theo kiểu dằn vặt nhất. Nỗi sợ và sự hối hận đánh nhau trong lòng anh ta mỗi ngày.

Buổi trưa, đoàn ăn cơm ngay dưới lán thờ tạm. Cơm do người trong xóm nấu mang vào, cá lóc kho và canh chua bông điên điển. Thầy Hớn ăn ít, phần lớn thời gian ông nhìn về phía Lung Sậy, như đang đo một khoảng cách vô hình giữa bờ mồ và mặt nước đen.

Ăn xong, ông chống gậy đứng dậy, đi chậm xuống chân gò, tới sát mé lung. Lượm đi theo sau, Phúc và hai người kia giữ khoảng cách. Mặt nước ở đây phẳng lặng, đen và sâu, không thấy đáy. Mùi nhựa tràm thoang thoảng trong gió, chưa nồng, chỉ đủ để người quen rừng nhận ra.

Thầy Hớn đứng rất lâu ở đó, rồi quay lại, nói một câu làm tất cả lặng đi. Giọng ông không lớn, nhưng rõ từng chữ giữa trưa rừng yên tĩnh.

- Lễ này không phải cúng cho nó. Lễ này là để nó chứng kiến người ta biết lỗi.

Lượm nhìn theo ánh mắt của thầy ra mặt lung phẳng lặng. Ông bỗng hiểu ra một điều ông đã mang máng cảm thấy từ hôm vớt đủ hai mươi bảy bộ hài cốt. Đêm mười bốn tới đây, người quỳ không chỉ quỳ trước người chết. Họ còn quỳ trước một chứng nhân đã canh giữ nơi này suốt hơn năm mươi năm, một chứng nhân chưa từng rời đi và chưa từng được ai nói một lời đàng hoàng. Và chứng nhân đó đang ở đâu đó dưới mặt nước đen kia, lặng lẽ chờ.

---

Chương khác

Xem thêm