HEO LỤC NANH RỪNG U MINH - Chương 40: Cả xóm vào rừng

Ngày 07 tháng 11, từ lúc trời chưa sáng hẳn, bến nước ở ấp Kinh Ba đã đông người hơn mọi ngày. Tin đoàn đắp mồ cho hai mươi bảy liệt sĩ vô danh ở Đất…

Nội dung chương

Ngày 07 tháng 11, từ lúc trời chưa sáng hẳn, bến nước ở ấp Kinh Ba đã đông người hơn mọi ngày. Tin đoàn đắp mồ cho hai mươi bảy liệt sĩ vô danh ở Đất Lính đã lan khắp xóm từ hai hôm trước, qua những người chạy ghe, qua cán bộ xã, qua cả những bà đi chợ ở thị trấn. Không ai vận động, không ai kêu gọi bằng loa. Người dân tự tìm tới nhà Lượm, tới trạm kiểm lâm, hỏi một câu giống hệt nhau: bữa đó vào rừng đắp mồ, có cần thêm người phụ không. Có người mang theo cuốc xẻng của nhà. Có người mang theo gạo, mang theo cá khô, nói để nấu cơm cho đoàn làm việc trong rừng. Có mấy bà lớn tuổi gói sẵn nhang đèn và vải trắng trong túi nilon, dặn đi dặn lại là phải thắp cho các anh một nén nhang cho đàng hoàng.

Lượm đứng ở bến nước nhìn đoàn ghe xuồng dài hơn hẳn những ngày trước mà lòng nghẹn lại. Suốt gần hai tháng qua, ông đã quen với việc Đất Lính là nơi người ta sợ nhắc tới, nơi hai người chết, nơi có một con thú mà dư luận đòi giết. Sáng nay, cũng chính bãi đất đó lại trở thành nơi cả xóm cùng hướng về, không phải bằng nỗi sợ, mà bằng một sự lặng lẽ trang trọng của những người đi làm một việc nghĩa cho người đã khuất. Phúc phải cho thêm hai cán bộ đi theo đoàn để giữ trật tự và ghi chép, đồng thời phổ biến rõ quy định. Mọi người vào rừng theo đoàn, làm việc theo khu vực được phân, không ai tự ý đi riêng vào sâu trong trảng, và tất cả phải rút ra trước khi trời tối.

Công việc trên gò cao hôm đó diễn ra nhộn nhịp mà không hề ồn ào. Người khiêng đất từ ghe lên gò theo một hàng dài, chuyền tay nhau từng bao, từng thúng. Người dựng lán thờ tạm ở phía đầu gò, mái lợp lá, bên trong đặt một bàn thờ nhỏ với bát nhang và mấy đĩa trái cây do dân xóm mang vào. Người nấu cơm ở khu đất khô phía sau gò, khói bếp bay lên mỏng và đều trong gió nhẹ. Mấy người đàn ông lớn tuổi trong xóm phụ trách việc nện đất quanh huyệt, từng lớp đất được rải xuống, tưới nước vừa đủ, nện chặt bằng những chiếc chày gỗ, để nấm mồ sau này không bị sạt khi nước dâng. Sang và Phong làm việc ở khu vực nặng nhất, khuân đất liên tục không nghỉ tay, áo ướt đẫm mồ hôi dù trời không nắng gắt.

Tới giữa buổi sáng, phần quan trọng nhất của ngày hôm đó bắt đầu: hạ huyệt. Hai mươi bảy bộ hài cốt đã kiểm đếm đủ, được bọc trong vải trắng sạch, đánh số thứ tự theo đúng biên bản, lần lượt được đưa từ khu vực bảo quản lên gò cao. Mỗi bộ được hai người khiêng bằng tay, đi chậm trên lối đi đã dọn sẵn, không dùng ghe máy chở thẳng tới miệng huyệt như chở hàng hóa. Lượm đứng ở miệng huyệt, tự tay đỡ từng bộ đặt xuống theo thứ tự, phủ thêm một lớp vải trắng, rồi mới ra hiệu cho bộ tiếp theo được mang tới. Phúc đọc to số thứ tự của từng bộ cho thư ký ghi vào biên bản hạ huyệt, giọng anh đều và rõ, vang nhẹ trên mặt gò yên tĩnh. Dân xóm đứng vòng ngoài, không chen lấn, nhiều người chắp tay trước ngực, có người lặng lẽ lau nước mắt khi nghe những con số được đọc lên liên tiếp, một, hai, ba, cho tới những số ở hàng chục.

Giữa lúc công việc đang diễn ra, một chiếc ghe nhỏ từ hướng kinh lớn chạy vào, neo lại ở bến tạm dưới chân gò. Người bước lên bờ là Đạt. Anh ta mặc áo sơ mi dài tay, cánh tay phải vẫn bó bột trắng, treo cố định trước ngực bằng một dải vải. Mặt anh ta còn xanh, người gầy đi trông thấy sau những ngày nằm viện, nhưng anh ta đi bộ một mình từ bến lên tới gò, không cần ai dìu. Sang là người nhìn thấy anh ta trước tiên. Cả hai đứng nhìn nhau một lúc lâu giữa hàng người khiêng đất, không ai nói được câu nào.

- Anh xin bác sĩ cho xuất viện sớm. - Đạt nói khẽ với Lượm khi tới gần miệng huyệt. - Con nói dối là về nhà có người chăm. Con không về nhà. Con nhờ người quen chở thẳng vào đây. Con nghe tin bữa nay hạ huyệt, con không nằm yên trong viện được chú à. Tay con vầy, con khiêng đất không được, nhưng con phải có mặt.

Lượm nhìn cánh tay bó bột của Đạt, nhìn gương mặt hốc hác của anh ta, rồi gật đầu. Ông không nói những lời nặng nhẹ. Ông chỉ tay về phía dãy hài cốt đang được đặt xuống huyệt và nói:

- Mày tới được là quý rồi. Đứng đó, coi cho hết. Rồi làm điều mày cần làm.

Đạt đứng yên bên miệng huyệt suốt phần còn lại của buổi hạ huyệt, không rời đi một bước. Khi bộ hài cốt cuối cùng trong danh sách buổi sáng được đặt xuống, anh ta từ từ quỳ xuống nền đất của gò cao. Quỳ bằng cả hai gối, lưng cúi thấp, cánh tay bó bột giữ chặt trước ngực, cánh tay lành chống nhẹ xuống đất để giữ thăng bằng. Đó là lần đầu tiên kể từ khi sự việc bắt đầu, một người trong nhóm đã đào xới Đất Lính quỳ xuống trước hài cốt của những người lính năm xưa. Cả gò cao im lặng hẳn. Tiếng khiêng đất dừng lại. Tiếng nói chuyện dừng lại. Chỉ còn tiếng gió qua hàng tràm và tiếng khóc nghẹn của Đạt vang lên giữa khoảng im lặng đó.

- Con lạy các anh. - Đạt nói, giọng đứt quãng, nước mắt chảy xuống nền đất khô. - Con là đứa đã theo người ta vào đào đất của các anh. Con biết các anh nằm đây mà con vẫn làm. Con lạy các anh tha cho con. Con xin lỗi. Con xin lỗi thiệt lòng.

Anh ta cúi đầu xuống sát đất, giữ nguyên như vậy rất lâu, bờ vai run lên từng đợt. Sang và Phong bước tới, quỳ xuống hai bên anh ta, không nói lời nào, chỉ quỳ cùng. Dân xóm đứng vòng ngoài không một tiếng xì xào trách móc. Sau gần hai tháng sợ hãi và bàn tán, người trong xóm có vẻ đều hiểu một điều giống như Lượm đã hiểu từ lâu: ba người trẻ này đã làm sai. Sai rất nặng, nhưng hôm nay họ đang trả nợ bằng cách khó nhất, quỳ xuống trước chính những gì mình đã đào lên, giữa ban ngày, trước mặt cả xóm. Một bà lớn tuổi trong đoàn dân xóm bước tới, đặt nhẹ bàn tay lên vai Đạt, nói khẽ rằng các anh ở dưới đó nghe được hết, cứ khóc cho hết rồi đứng dậy làm tiếp phần việc còn lại cho trọn.

Buổi chiều, công việc đắp mồ tiếp tục với nhịp chậm rãi và đều đặn. Lớp đất cuối cùng được phủ lên huyệt, nấm mồ chung bắt đầu thành hình rõ rệt trên gò cao: một gò đất dài, cao hơn mặt gò chung quanh một khoảng rõ ràng, được nện chặt và vuốt thẳng các mặt. Lán thờ tạm phía đầu gò đã có nhang khói. Phúc cho cắm một tấm bia tạm bằng gỗ ở đầu mồ, trên đó ghi dòng chữ ngắn gọn về hai mươi bảy liệt sĩ vô danh của chốt du kích năm 1972, chờ ngày bia đá chính thức được dựng sau khi hồ sơ hoàn tất. Đạt, sau khi quỳ lạy, không chịu về nghỉ theo lời khuyên của mọi người. Anh ta ngồi ở lán thờ tạm, dùng tay trái lành lặn phụ những việc nhẹ nhất: sắp lại vải trắng, đếm lại số nhang đèn, ghi chép phụ cho thư ký của trạm. Sang và Phong làm việc bên cạnh anh ta, thỉnh thoảng lại đưa nước cho bạn uống, ba người không nói nhiều nhưng không rời nhau nửa bước.

Lượm đi một vòng cuối quanh nấm mồ mới đắp khi nắng chiều đã ngả xuống thấp. Ông kiểm tra từng mặt đất mới nện, từng cọc mốc quanh gò, rồi đứng lại ở đầu mồ nhìn xuống dãy đất vừa được phủ kín. Năm mươi ba năm nằm trong hố bom, bị đào lên, bị vứt xuống đầm, bị buộc đá chìm dưới bùn, giờ đây hai mươi bảy người lính đã nằm lại với nhau trong một nấm mồ chung trên gò cao của chính mảnh đất họ đã giữ. Công việc chưa xong. Bia đá chưa dựng. Lễ tạ tội chưa làm. Hạn chót 15 tháng 11 vẫn đang đếm ngược từng ngày. Nhưng khi Lượm đặt tay lên lớp đất còn ấm nắng của nấm mồ mới, ông biết phần việc nặng nhất trong lòng người sống đã bắt đầu được gỡ ra, từng chút một.

Trước khi đoàn rút khỏi gò, Phúc tập hợp mọi người lại để điểm danh và dặn dò phần việc những ngày tới: mồ cần được gia cố thêm hai lớp đất nữa cho chắc. Bia tạm phải có người trực coi sóc, và quan trọng nhất là lễ tạ tội phải được chuẩn bị ngay từ bây giờ, không được để dồn tới sát hạn chót. Dân xóm nghe xong, nhiều người đăng ký luôn phần việc của những ngày tiếp theo, người nhận chở đất, người nhận trực ở lán thờ, người nhận lo cơm nước cho đoàn. Một việc mà mấy ngày trước Lượm còn lo không đủ người làm, giờ đây bỗng trở thành việc của cả xóm. Ông ghi lại từng cái tên vào cuốn sổ tay của mình, nét chữ chậm rãi, lòng nhẹ đi một phần mà suốt từ đầu tháng chín tới nay chưa lúc nào nhẹ được như vậy.

Đoàn ghe xuồng rời Đất Lính khi mặt trời đã chạm xuống ngọn tràm. Trên ghe của Toàn, Đạt ngồi ở phía sau, cánh tay bó bột đặt gọn trong lòng, mắt vẫn ngoái lại nhìn nấm mồ mới đắp cho tới khi gò cao khuất hẳn sau hàng tràm. Sang ngồi cạnh anh ta, Phong ngồi ở mũi ghe, ba người im lặng suốt quãng đường ra. Lượm ngồi trên xuồng của mình đi cuối đoàn, nhìn khói nhang mỏng còn bay lên từ lán thờ tạm phía xa, nhỏ dần rồi tan vào sương chiều đang xuống trên mặt đầm.

Khi bộ hài cốt thứ hai mươi bảy được đặt xuống huyệt, gió trong rừng bỗng tắt phụt, và từ phía Lung Sậy vọng lên một tiếng thở rất lớn, dài như tiếng thở của cả khu rừng.

---

Chương khác

Xem thêm