HEO LỤC NANH RỪNG U MINH - Chương 39: Gò cao đắp mồ
Sáng 05 tháng 11, Phúc mang kết quả thu gom hài cốt về báo cáo lên huyện. Buổi chiều cùng ngày, khi Lượm đang ở trạm kiểm lâm phụ sắp xếp lại hồ sơ của…
Nội dung chương
Sáng 05 tháng 11, Phúc mang kết quả thu gom hài cốt về báo cáo lên huyện. Buổi chiều cùng ngày, khi Lượm đang ở trạm kiểm lâm phụ sắp xếp lại hồ sơ của đoàn, Phúc trở về với một tập văn bản có đóng dấu đỏ. Tin chính thức đúng như những gì hai người đã dự đoán từ cuộc họp hôm 01 tháng 11. Lệnh xử lý cá thể thú dữ ở Lung Sậy bằng thuốc nổ được tạm dừng mười ngày, kể từ ngày 05 tháng 11 năm 2025, để phục vụ việc thu gom và an táng hài cốt liệt sĩ tại Đất Lính. Lệnh tạm dừng hết hạn vào ngày 15 tháng 11. Văn bản ghi rõ, lệnh xử lý không bị hủy bỏ. Nếu sau thời hạn đó, khu vực vẫn còn được đánh giá là mất an toàn, phương án dùng thuốc nổ sẽ được thực thi theo kế hoạch đã thông qua.
- Giấy trắng mực đen đây anh. - Phúc đặt tập văn bản lên bàn. - Mười ngày kể từ hôm nay. Nhưng mình đã dùng hết ba ngày đầu cho việc vớt và kiểm đếm rồi, tính theo tiến độ thực tế chớ không tính theo văn bản. Việc còn lại là đắp mồ, dựng bia và làm lễ. Phải xong trước đêm mười bốn, vì ngày mười lăm là hạn chót, không ai dám để lễ lọt sang ngày đó.
- Tao biết. - Lượm nói. - Mồ phải đắp trên gò cao, trong chính Đất Lính. Không được mang các anh về nơi khác. Các anh nằm ở đất đó, mồ của các anh phải ở đất đó.
Chiều hôm đó, đoàn quay vào Đất Lính để chọn vị trí đắp mồ. Tám Rắn lại được đưa vào bìa trảng bằng ghe của Toàn, ngồi trên chiếc ghế nhỏ mang theo, cây gậy chống bên cạnh. Ông đã góp ý từ trước: chọn gò cao nhất trong trảng, đất khô, không ngập ngay cả khi nước dâng cao nhất mùa, và phải nhìn ra được mặt Lung Sậy. Người xưa khi đóng chốt ở đây cũng chọn hướng đất như vậy: cao để tránh nước, thoáng để quan sát, gần lung mà không sát lung.
Đoàn đi bộ vòng quanh ba gò đất còn nổi rõ trong vùng trảng. Gò thứ nhất gần hố bom nhất nhưng đất thấp, chân gò đã ngấm nước, mưa thêm vài ngày là ngập. Gò thứ hai cao hơn, nhưng nhỏ, không đủ chỗ cho một nấm mồ chung của hai mươi bảy người và khoảng đất phía trước để làm lễ. Gò thứ ba nằm ở phía bắc của trảng, cao hơn hẳn hai gò kia, mặt gò rộng và tương đối bằng phẳng, đất pha cát khô ráo dù xung quanh nước vẫn còn ngập trắng. Từ trên gò nhìn xuống, mặt Lung Sậy hiện ra qua một khoảng trống giữa hai hàng tràm, đen và phẳng lặng. Tám Rắn chống gậy đi một vòng quanh gò, thỉnh thoảng lại dừng lại, lấy đầu gậy gõ xuống đất nghe tiếng, rồi gật đầu.
- Gò này được. - Ông nói. - Đất cao, tiếng gõ chắc, không rỗng. Hồi xưa tao đi ngang trảng này, hình như chốt của các anh cũng ở phía hướng này. Đắp ở đây là đúng hướng đất cũ của người xưa.
Phúc cho cán bộ của trạm đo đạc và cắm cọc đánh dấu ranh giới khu vực đắp mồ theo đúng quy trình: vị trí huyệt chung ở trung tâm gò, lối đi lên từ phía bờ khô, khu vực phía trước huyệt để đoàn làm lễ sau này. Lượm đứng ở mép gò nhìn xuống mặt lung. Khoảng cách từ gò tới mặt nước vừa đủ gần để người trên gò nhìn rõ mọi động tĩnh của lung, vừa đủ xa để nước dâng cao cũng khó tràn tới chân mồ trong những ngày thường của mùa nước. Ông chợt nghĩ, nếu lễ tạ tội làm ở một nơi khác, khuất mặt con thú, thì cái lễ đó chỉ là lễ cho người sống tự an ủi nhau. Còn làm ở đây, trên gò cao này, trước mặt lung, thì từng lời khấn sẽ phải nói ra trước sự hiện diện của kẻ canh giữ thật sự của bãi đất.
Công việc đào huyệt và đắp mồ bắt đầu ngay từ chiều hôm đó và sẽ kéo dài nhiều ngày. Nhóm đầu tiên gồm cán bộ của trạm, Sang, Phong và Toàn lo việc phát quang mặt gò, vận chuyển đất khô từ bờ cao vào, dựng lán tạm che mưa cho khu vực huyệt. Hai mươi bảy bộ hài cốt vẫn được bảo quản trong khu vực phong tỏa có người trực, chờ ngày hạ huyệt theo thứ tự kiểm đếm. Lượm phụ trách việc coi sóc chung và ghi chép vào sổ tay của mình từng phần việc đã xong, từng phần việc còn thiếu, như một người đang đếm ngược bằng công việc thay vì bằng lịch.
Việc đắp mồ không đơn giản như Lượm tưởng lúc đầu. Đất trên gò cao thì khô, nhưng đất tốt để đắp thành nấm mồ cao và chắc thì phải chở từ bờ đất phía ngoài trảng vào, từng ghe một, vì đất ngay tại trảng phần lớn đã bị xáo trộn hoặc ngấm bùn đen từ hố bom. Toàn tính toán lượng đất cần dùng, Phúc lo thủ tục xin phép sử dụng khu đất trong vùng bảo vệ, còn Sang và Phong thì nhận phần việc nặng nhất là khuân từng bao đất từ ghe lên gò. Huyệt chung được đào theo kích thước đã đo, thành huyệt được nện chặt từng lớp để tránh sạt khi nước dâng. Lượm đi quanh gò nhiều vòng, kiểm tra từng cọc mốc, từng đoạn lối đi, thỉnh thoảng lại đứng lại nhìn xuống mặt lung như muốn ghi nhớ khoảng cách giữa nấm mồ sắp thành hình và mặt nước đen kia. Ông biết từ hôm nay tới ngày hạ huyệt và làm lễ, đoàn sẽ còn phải quay lại gò này nhiều lần nữa, và mỗi lần như vậy đều là một lần bước vào tầm mắt của kẻ canh giữ bãi đất.
Có một lúc, khi cả đoàn nghỉ tay uống nước trên gò, Phong nhìn xuống mặt lung rồi hỏi khẽ, giọng như chỉ nói cho chính mình nghe:
- Nó có đang coi mình đắp mồ không chú?
- Có. - Lượm đáp ngay, không cần suy nghĩ. - Từ hồi mình vớt bao đầu tiên tới giờ, bữa nào nó cũng coi hết. Nó coi để biết mình thiệt lòng hay làm cho qua chuyện.
Không ai nói thêm câu nào sau đó. Mọi người lặng lẽ quay lại công việc, và Lượm nhận thấy từ lúc ấy, từng bao đất được khuân lên gò đều được đặt xuống nhẹ nhàng hơn, từng nhát cuốc đào huyệt đều chậm lại và chắc chắn hơn. Có lẽ đó chính là điều mà một nấm mồ tử sĩ cần nhất từ người sống: không phải sự nhanh nhẹn, mà là sự cẩn trọng của những người biết mình đang làm việc dưới ánh mắt của cả người chết lẫn kẻ canh giữ họ.
Tối hôm đó, về tới nhà, Lượm mệt rã rời. Ông ăn qua loa chén cơm, kiểm tra lại cuốn sổ tay, rồi nằm xuống giường từ sớm. Con Vện nằm dưới chân giường, thỉnh thoảng thở dài trong giấc ngủ của chó già. Chiếc nanh trên cổ ông lạnh ngắt như mọi ngày gần đây. Ông thiếp đi lúc nào không hay, giữa tiếng mưa nhỏ gõ đều trên mái lá và tiếng nước vỗ vào chân sàn nhà.
Trong giấc mơ, ông thấy mình đứng ở bìa Đất Lính, trời không rõ là sáng hay chiều, mặt đầm trước mặt phẳng lặng và phủ một lớp sương mỏng. Ở phía bên kia bờ đầm, có một người đàn ông đang đứng quay lưng về phía lung. Người đó mặc bộ đồ thợ săn cũ đã sờn, vai áo bạc màu, lưng hơi còng theo kiểu của người đã đi rừng cả đời. Lượm nhận ra dáng đứng đó ngay lập tức, dù đã hơn hai mươi năm ông không còn nhìn thấy nó bằng mắt thật nữa. Đó là ông nội Kỉnh.
Ông nội không quay lại. Ông đứng yên bên bờ đầm một lúc rất lâu, rồi từ từ giơ cánh tay phải lên, chỉ thẳng về phía Lung Sậy. Không một lời nào được nói ra. Không một tiếng gọi nào. Chỉ có cánh tay giơ lên trong sương, và ngón tay chỉ về mặt nước đen phẳng lặng đó, rõ ràng và dứt khoát như một mệnh lệnh không cần lời. Lượm bước tới một bước, định gọi, nhưng chân ông như bị giữ chặt trong lớp bùn vô hình của giấc mơ. Ông nội vẫn đứng yên, tay vẫn chỉ về phía lung. Rồi sương dày lên, nuốt dần bóng người thợ săn già, cho tới khi chỉ còn lại mặt đầm và khoảng trống nơi ông vừa đứng.
Lượm giật mình tỉnh dậy lúc nửa đêm. Mưa đã tạnh. Trong nhà tối om, chỉ có tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ cũ và tiếng thở đều của con Vện. Ông ngồi dậy, đưa tay lên ngực. Chiếc nanh lạnh ngắt, lạnh như một lời xác nhận không lời. Ông ngồi yên rất lâu trong bóng tối, nhớ lại cánh tay giơ lên trong mơ và hướng chỉ của nó. Ông nội ông, người đã tháo bẫy cứu con thú năm 1968, người được nó cứu lại năm 1975. Người giữ kín chuyện ân nghĩa đó gần như suốt đời, có vẻ vẫn còn một điều chưa nói hết với cháu mình, và ông chọn nói bằng cách đó: chỉ về phía lung.
Sáng ra, khi Phúc tới nhà bàn việc chuẩn bị lễ, Lượm nói thẳng quyết định của mình, giọng chắc chắn như đã suy nghĩ suốt cả đêm không ngủ lại được.
- Cái lễ tạ tội không làm ở trạm, không làm ở xã, cũng không làm khuất trong lán thờ tạm. Làm ngay tại bờ lung, trên gò cao nhìn ra Lung Sậy. Nó phải có mặt ở đó, như người nhà dự lễ. Mình xin lỗi người chết và xin lỗi luôn kẻ canh mồ của họ, thì không được né mặt kẻ canh mồ.
Phúc nhìn ông một lúc, rồi gật đầu ghi vào kế hoạch. Anh không hỏi về giấc mơ. Có những điều, sau gần hai tháng làm việc chung trong khu rừng này, anh đã học được cách không cần hỏi thêm. Thay vào đó, anh hỏi những câu rất thực tế: lễ sẽ cần bao nhiêu người có mặt, ai là người quỳ, ai là người khấn, phần việc nào thuộc về trạm và phần việc nào thuộc về dân ấp. Lượm trả lời từng câu theo những gì ông đã gom góp được từ lời Tám Rắn và lời thầy Chín Hớn: người đào phải quỳ, người sống phải xin, lễ làm theo lệ cũ của dân vùng, không pháp thuật, không phô trương. Còn phần soạn lễ cho đúng lệ, ông nói sẽ đích thân lên thị trấn mời thầy Chín Hớn xuống giúp, vì thầy là người giữ sổ của thầy Sáu Xương và hiểu rõ hơn ai hết món nợ của nhà ông với bãi đất này.
- Còn thời gian thì sao? - Phúc hỏi cuối cùng.
- Đắp mồ cho xong trước, lễ tính sau, nhưng không được trễ hơn đêm mười bốn. - Lượm nói. - Mình không còn ngày nào để phí nữa.
Hai người chốt lại kế hoạch ngay trong buổi sáng đó, từng đầu việc được ghi thành danh sách, từng người được giao một phần cụ thể. Khi Phúc ra về, Lượm mở cuốn sổ tay của mình ra, ngồi xuống bàn, nghĩ một lúc lâu rồi mới cầm bút.
Lượm ghi vào sổ tay một dòng: Lễ làm ở bờ lung. Nó phải có mặt, như người nhà dự lễ.
---