HEO LỤC NANH RỪNG U MINH - Chương 36: Mười ngày

Sáng 02 tháng 11, Lượm thức dậy từ khi trời còn tối, ngồi ở bến nước sau nhà nhìn ra con kinh chìm trong sương. Cuộc họp huyện hôm qua vẫn còn nguyên…

Nội dung chương

Sáng 02 tháng 11, Lượm thức dậy từ khi trời còn tối, ngồi ở bến nước sau nhà nhìn ra con kinh chìm trong sương. Cuộc họp huyện hôm qua vẫn còn nguyên trong đầu ông, từng câu kết luận như được đóng đinh vào trí nhớ. Phương án xử lý con thú bằng thuốc nổ đã được thông qua, chỉ tạm dừng thi hành khẩn cấp để thu gom hài cốt trong lúc chờ văn bản chính thức, hạn chót ngày 15 tháng 11. Ông đếm thầm trên đầu ngón tay. Từ hôm nay tới ngày đó, trừ đi những ngày làm thủ tục, những ngày chờ văn bản, những ngày mưa gió không vào rừng được, thời gian thật sự còn lại ít hơn con số trên giấy rất nhiều.

Ông vào nhà, lấy cuốn sổ tay cũ đã theo ông nhiều mùa rừng, ngồi xuống bàn và bắt đầu viết kế hoạch bằng nét chữ chậm rãi của mình. Bước một: vớt lại toàn bộ hài cốt tử sĩ đã bị nhóm của Hùng đổ xuống đầm, gom cả những mảnh xương vương vãi trong hố đào và quanh miệng hố bom. Bước hai: kiểm đếm cho đủ số người theo truyền khẩu của dân vùng và những gì còn tra cứu được trong hồ sơ mật khu, không được thiếu một người nào. Bước ba: chọn gò cao trong Đất Lính, đắp một nấm mồ chung cho đàng hoàng, dựng bia ghi nhận, rồi làm lễ tạ tội ngay tại đó, do chính những kẻ đã đào phải quỳ xuống xin lỗi. Ba bước, viết ra chỉ có mấy dòng, mà Lượm biết mỗi bước đều nặng như một mùa rừng.

Vấn đề đầu tiên là người. Vớt hài cốt dưới đầm không phải việc của một hai người làm trong một buổi. Cần người biết rõ từng bao xương bị đổ xuống ở đâu, cần người lội nước mò tìm trong bùn đen nhiều ngày liền, cần người lập biên bản và bảo vệ hiện trường, cần ghe xuồng ra vào liên tục. Phúc đã hứa sẽ lo phần thủ tục và lực lượng của trạm, nhưng người biết rõ vị trí từng bao hài cốt nhất lại chính là hai người vừa đầu thú: Sang và Phong.

Trưa hôm đó, Lượm tới Trạm Kiểm lâm Kinh Ba gặp Phúc và hai người họ. Sang và Phong đang ở trong phòng làm việc của trạm, chờ quyết định về việc tham gia đoàn thu gom. Cả hai đều đã ký lời khai đầy đủ, đã chỉ nhiều vị trí trên bản đồ khu vực Đất Lính vẽ tay. Thấy Lượm bước vào, Sang đứng dậy trước.

- Chú Lượm, cho con đi theo đoàn. - Sang nói ngay, không chờ ai hỏi. - Những bao xương đó, một phần là tay con buông xuống nước. Con buông ở đâu, con phải tự tay vớt lên ở đó. Con không đi, con ngủ không được chú à.

Phong gật đầu theo, giọng còn run nhưng rõ ràng:

- Con cũng đi. Con lái ghe cho nhóm đó vào, con biết đường nước và biết mấy chỗ anh Hùng bắt đổ bao. Cho con làm lại từ đầu, làm tới đâu hay tới đó.

Phúc nhìn hai người một lúc lâu. Anh là người của thủ tục, anh phải cân nhắc chuyện đưa hai đối tượng đang trong quá trình điều tra vào lại hiện trường. Nhưng anh cũng hiểu, không có họ, đoàn sẽ mất thêm nhiều ngày mò tìm mò mẫm dưới một cái đầm rộng, trong khi hạn chót thì không chờ ai.

- Được. - Phúc nói cuối cùng. - Hai người được tham gia đoàn thu gom với điều kiện có cán bộ giám sát đi kèm mọi lúc, không được tự ý rời đoàn, mọi việc làm đều ghi vào biên bản ngày. Đây không phải hình phạt thêm, đây là cơ hội để hai người chuộc lại lỗi của mình bằng việc làm cụ thể. Ai vi phạm điều kiện, tôi cho rút khỏi đoàn ngay.

- Dạ, tụi con chịu hết. - Sang đáp, mắt đỏ lên. - Miễn cho tụi con được làm.

Người thứ hai xung phong là Toàn. Chiều hôm đó, khi Lượm về tới nhà, Toàn đã chờ sẵn ở bến nước, chiếc ghe máy của anh neo ngay cạnh xuồng của cha. Toàn nghe tin về cuộc họp huyện từ sáng, nghe cả chuyện mười ngày, và anh tới không phải để can ngăn cha như những lần trước.

- Cha cho con chạy ghe cho đoàn. - Toàn nói. - Đường nước vào Đất Lính con rành không kém gì cha. Đoàn cần ghe chở người, chở bao, chở đất đắp mồ sau này. Một mình ghe của trạm không kham hết đâu.

Lượm nhìn con trai. Mới hơn một tháng trước, cũng ở bến nước này, Toàn còn gạ ông bán chiếc nanh lấy ba trăm triệu sửa nhà, hai cha con cãi nhau tới mức mấy ngày không nhìn mặt nhau. Từ đêm theo cha vào gần Đất Lính và tận mắt thấy cả đàn chó của đoàn kiểm lâm nằm bẹp trong im lặng, Toàn đã đổi khác. Anh không nói nhiều về sự thay đổi đó, chỉ lặng lẽ có mặt mỗi khi cha cần, như một người đang tự học lại cách nhìn khu rừng mà mình lớn lên bên cạnh.

- Vào đó không phải chuyện chơi. - Lượm nói. - Hai người đã chết trong vòng nửa tháng. Mày còn con Trâm ở nhà.

- Con biết. - Toàn đáp. - Chính vì vậy con mới phải đi. Nhà mình giữ chiếc nanh của ông nội ba đời nay. Chuyện này mà con đứng ngoài, sau này con biết nói sao với con Trâm.

Buổi tối, Tám Rắn chống gậy qua nhà Lượm. Ông bạn già yếu chân, không vào rừng được nữa, nhưng ông mang theo thứ quý hơn sức lực: trí nhớ của một người đã sống ở vùng này từ thời chiến tranh còn chưa dứt. Ngồi bên ấm trà, Tám Rắn kể lại những gì ông nhớ về chốt du kích năm xưa ở Đất Lính: họ là người của mật khu. Có người trong vùng, có người từ nơi khác tới, đóng ở trảng đất đó một thời gian trước khi bị bom vùi năm 1972. Ông nhớ mang máng về người chỉ huy của chốt, nhớ vài gương mặt lính trẻ măng mà ông từng gặp khi tiếp tế vào rừng. Con số người của chốt thì ông đã nói chắc từ đầu theo lời cha truyền lại, không hề ngập ngừng. Điều ông còn chờ nhìn tận mắt là hài cốt vớt lên còn đủ con số đó hay đã thất lạc mất phần nào sau mấy chục năm và sau những ngày bị đào xới. Nhưng ông góp cho đoàn một danh sách những vật dụng và dấu tích của chốt mà ông còn nhớ, để khi vớt được vật gì lên, đoàn có thêm cơ sở đối chiếu.

- Còn chuyện đắp mồ, mày nghe tao. - Tám Rắn nói, gõ nhẹ cây gậy xuống sàn. - Đất có người nằm thì phải đắp cho cao, cho khô. Chọn gò nào cao nhất trong trảng, hướng ra lung, đừng chọn chỗ trũng. Người xưa nằm ở đó, đắp mồ cũng phải theo hướng đất cũ của họ.

- Tao nhớ. - Lượm gật đầu. - Mai vào tới nơi, tao coi đất rồi tính.

- Còn cái lễ. - Tám Rắn hạ giọng. - Mày nhớ lệ cũ tao nói với mày hồi đầu tháng mười không? Đào đất có người nằm thì kẻ đào phải quỳ lạy đắp lại. Cái lễ này không phải chuyện mê tín cho vui. Không có nó, đất không yên, người sống cũng không yên. Mày phải tính từ bây giờ, đừng để tới ngày cuối mới lo.

Lượm gật đầu. Lời của Tám Rắn khớp với lời thầy Chín Hớn dặn ông ở thị trấn: đừng mang súng vào, mang theo cái lễ, và mang theo đủ những gì đã bị đào lên. Hai người già, một người giữ truyền khẩu của dân rừng, một người giữ sổ bùa của thầy xưa, nói với ông cùng một điều bằng hai cách khác nhau. Con đường của mười ngày tới, vì vậy, đã rõ ràng hơn bất kỳ kế hoạch nào viết trong sổ tay.

Đêm đó, Lượm kiểm tra lại đồ nghề: đèn pin, dây thừng, bao tải sạch để đựng hài cốt vớt lên, vải trắng, nhang đèn, và cuốn sổ tay có kế hoạch ba bước. Con Vện nằm ở chân giường, thỉnh thoảng ngẩng đầu nhìn ra cửa như nghe ngóng điều gì ngoài bến nước. Ông đưa tay lên ngực theo thói quen. Chiếc nanh vẫn ở đó. Nhưng khi ngón tay ông chạm vào nó qua lớp áo, ông khựng lại.

Nó lạnh. Lạnh hẳn. Không phải cái lạnh thường ngày mà ông đã quen mười năm nay, cũng không phải hơi ấm âm ỉ của những tuần qua. Nó lạnh như một viên đá vừa vớt lên từ đáy sông trong đêm, cái lạnh thấm qua lớp áo vào da, rõ ràng tới mức không thể nhầm lẫn. Sau nhiều tuần nóng dần, nóng ran rồi nóng rực như đếm ngược tới một biến cố, chiếc nanh nguội hẳn đi như vậy lần đầu tiên.

Lượm ngồi yên trong bóng tối, tay vẫn đặt trên ngực. Ông không biết đó là điềm lành hay điềm dữ. Có thể rừng đã yên lại sau cái chết của Hùng, và chiếc nanh lạnh đi vì không còn điềm gở nào trước mắt. Cũng có thể đây là sự yên lặng trước một chuyện lớn hơn, như mặt nước đầm phẳng lặng bất thường trước khi một cái lưng khổng lồ trồi lên. Ông chỉ biết một điều chắc chắn: dù là lành hay dữ, ông cũng không còn đường lùi. Ngày mai, đoàn sẽ vào Đất Lính giữa ban ngày, bắt đầu công việc vớt lại từng bộ hài cốt, trên chính bãi đất mà hai người đã chết trong vòng nửa tháng. Đồng hồ đã bắt đầu đếm ngược về ngày mười lăm.

Ông gấp cuốn sổ tay bỏ vào túi áo, nằm xuống mà không chợp mắt được bao lâu. Trong đầu ông, từng việc của ngày mai cứ hiện ra theo thứ tự: ghe của Toàn chở người và bao tải sạch đi đầu, ghe của trạm chở cán bộ và dụng cụ đi giữa, xuồng của ông đi sau cùng để chốt đoàn. Tới bìa trảng, đoàn sẽ dựng lán tạm trên gò khô, chia nhau từng khu vực mà Sang và Phong đã chỉ. Không ai được rời đoàn một mình. Không ai được lội xuống đầm khi trời đã sập tối. Những quy định đó, Phúc đã viết rõ trong kế hoạch làm việc, và Lượm tự hứa với mình lần này ông sẽ tuân thủ từng chữ, không tự ý hành động một mình như những lần đã phải trả giá trước đây.

Sáng sớm hôm sau, sương còn phủ trắng mặt kinh, đoàn người và ghe máy lặng lẽ rời bến trong sương sớm, đi thẳng vào Đất Lính giữa ban ngày, nơi hai người đã chết trong vòng nửa tháng.

---

Chương khác

Xem thêm