HEO LỤC NANH RỪNG U MINH - Chương 33: Sổ khắc bùa

Sáng 28 tháng 10, Lượm chạy ghe lên thị trấn U Minh, tìm tới căn nhà của thầy Chín Hớn nằm sâu trong một con hẻm nhỏ sau chợ. Trời vừa tạnh mưa, mái tôn…

Nội dung chương

Sáng 28 tháng 10, Lượm chạy ghe lên thị trấn U Minh, tìm tới căn nhà của thầy Chín Hớn nằm sâu trong một con hẻm nhỏ sau chợ. Trời vừa tạnh mưa, mái tôn của những căn nhà hai bên hẻm còn nhỏ nước tong tong xuống mặt đường. Ông đi chậm, tay ôm chặt trước ngực chỗ chiếc nanh nằm dưới lớp áo, lòng không yên từ sau cuộc thăm bệnh viện hai ngày trước. Lời khai của Đạt về Hùng, về lán bí mật và những quả mìn tự chế, đã được Phúc cho người truy tìm nhưng chưa có kết quả. Trong lúc chờ đợi, Lượm biết mình cần gặp một người: người duy nhất còn sống có thể cho ông biết chiếc nanh trên cổ ông thật sự là gì, và giới hạn của nó nằm ở đâu.

Thầy Chín Hớn năm nay tám mươi hai tuổi. Ông là thợ mộc cả đời ở thị trấn này, bàn tay đầy vết chai và sẹo gỗ, lưng đã còng nhưng mắt còn tinh. Quan trọng hơn, ông là học trò và cũng là cháu của thầy Sáu Xương, người đã khắc bùa lên chiếc nanh năm 1975. Dân quanh vùng gọi ông là thầy Chín vì ông biết nghề bùa Lỗ Ban của dòng họ, nhưng ông ít nhận làm bùa cho ai từ nhiều năm nay. Ông nói nghề đó giữ nhà thì được, đem ra khoe khoang hay bán buôn thì sớm muộn cũng mang họa.

Thấy Lượm tới, thầy Hớn không hỏi han vòng vo. Ông pha một ấm trà nóng, rót ra hai chén nhỏ, rồi nhìn thẳng vào ngực khách.

- Anh tới vì chiếc nanh, phải không? - Thầy nói. - Đêm qua tôi nằm mơ thấy cậu Sáu tôi. Ông đứng ở đầu giường, không nói gì, chỉ nhìn ra cửa. Sáng nay nghe người ở chợ xì xào chuyện heo rừng trong Đất Lính, tôi biết thế nào anh cũng tới.

Lượm gật đầu. Ông kể lại vắn tắt những gì đã xảy ra từ giữa tháng chín tới nay: chiếc nanh nóng ran báo điềm, nhóm cát tặc đào vào Đất Lính, cái chết của Tài. Đêm đào lớn và lúc con thú khựng lại trước ngực ông, rồi lời khai của Đạt về Hùng đang lẩn trong rừng với ý định giết quái thú lấy nanh. Thầy Hớn nghe, không chen vào một lời, chỉ thỉnh thoảng gật đầu rất nhẹ. Khi Lượm kể xong, ông chống tay đứng dậy, đi vào buồng trong.

- Anh chờ tôi một chút. - Ông nói. - Có thứ này, năm mươi năm rồi chưa mở ra cho ai ngoài nhà coi.

Ông trở ra với một cuốn sổ bọc vải đã sờn, gáy sổ khâu bằng chỉ gai, giấy bên trong ngả màu vàng nâu của thời gian. Đó là sổ khắc bùa gia truyền của thầy Sáu Xương, cuốn sổ mà dòng họ thầy ghi lại từng món đồ đã khắc bùa qua nhiều đời: ngày tháng, người mang tới, hoa văn đã khắc và những lời chú dặn kèm theo. Thầy Hớn đặt cuốn sổ lên bàn, mở từng trang bằng hai bàn tay run run vì tuổi già. Mùi giấy cũ và mùi long não xông lên nhẹ nhàng.

- Đây. - Thầy dừng lại ở một trang gần cuối sổ, lật ngược cuốn sổ về phía Lượm. - Trang này cậu Sáu tôi viết vào năm 1975, sau khi ông nội anh mang chiếc nanh tới.

Lượm cúi xuống nhìn. Nét chữ của thầy Sáu Xương đã nhòe theo thời gian nhưng vẫn đọc được: ghi rõ tháng hai năm 1975, một chiếc nanh heo rừng gãy ở chân nanh, dài hơn hai tấc, do ông Trần Văn Kỉnh mang tới nhờ khắc bùa và bọc bạc. Bên cạnh dòng chữ là hình vẽ tay của chính chiếc nanh, với chín chữ bùa được chép lại đúng vị trí đã khắc trên thân nanh. Lượm tháo sợi dây trên cổ, đặt chiếc nanh của mình lên bàn, ngay cạnh trang sổ. Lần đầu tiên sau nhiều chục năm, chiếc nanh rời khỏi cổ người giữ nó để nằm đối chiếu với trang giấy đã ghi lại ngày nó được khắc bùa. Chín chữ trên thân nanh khớp từng nét với hình vẽ trong sổ. Không thể có sự nhầm lẫn nào nữa.

- Đúng nó rồi. - Thầy Hớn nói khẽ, đưa ngón tay gầy guộc chạm nhẹ lên chiếc nanh. - Lạnh thiệt. Hồi cậu Sáu tôi còn sống, ông nói chiếc nanh này quanh năm lạnh như vậy. Người xưa nói nanh của thú còn sống thì lạnh, nanh của thú đã chết thì ấm theo thân người. Nhưng phải nó hay không thì chưa ai giáp mặt đủ gần để dám chắc, anh à. Tôi chỉ tin theo cuốn sổ này và lời ông Kỉnh kể lại mà thôi.

Lượm nhìn chiếc nanh nằm trên mặt bàn gỗ cũ. Mười năm đeo nó trên cổ, ông chỉ biết nó là kỷ vật của ông nội, là lời trối không được bán, là vật thỉnh thoảng nóng lên báo điềm gở. Giờ đây, từng dòng chữ trong cuốn sổ này đang gợi thêm một niềm tin mà ông vẫn chưa dám tin hẳn từ đêm đào lớn. Rằng chiếc nanh này gãy khỏi hàm của một con heo rừng trong cái đêm tháng hai năm 1975 khi nó kéo ông nội ông ra khỏi hầm sập. Còn con thú đang canh Đất Lính bây giờ có phải chính là nó hay không, sổ không nói, và ông cũng chưa dám nói chắc.

- Thầy coi giùm tôi dòng dưới này. - Lượm chỉ vào mấy chữ viết nhỏ hơn ở cuối trang, nét chữ khác hẳn phần ghi chép phía trên, như được thêm vào sau cùng, khi người viết đã đặt bút xuống rồi lại cầm lên.

Thầy Hớn nheo mắt, kéo cuốn sổ lại gần ngọn đèn, đọc chậm rãi từng chữ:

- Nanh trả về rừng, người mới yên.

Căn phòng im lặng một lúc. Ngoài hẻm, tiếng người đi chợ và tiếng xe máy chạy qua nghe xa hẳn, như bị ngăn bởi một lớp cửa vô hình.

- Đó là dòng chú cuối của cậu Sáu tôi. - Thầy Hớn nói. - Ông viết nó sau khi ông nội anh ra về. Tôi còn nhớ, hồi đó tôi mới ngoài ba mươi, phụ việc trong xưởng mộc này. Cậu Sáu tôi ngồi ở cái bàn này, nhìn theo ông nội anh đi khuất đầu hẻm, rồi quay lại mở sổ viết thêm dòng đó. Tôi hỏi ổng viết vậy là sao. Ổng nói, chiếc nanh này không phải đồ để giữ của. Nó là một món nợ. Ngày nào nhà họ Trần còn đeo nó mà quên mất món nợ với rừng, ngày đó chưa yên được. Phải trả nó về với rừng, theo cách của rừng, người mới yên.

- Trả về rừng là trả cách nào, thầy? - Lượm hỏi. - Là tôi phải đem chiếc nanh này vào Đất Lính, để lại đó sao?

Thầy Hớn lắc đầu chậm rãi.

- Cậu Sáu tôi không dặn rõ tới mức đó, và tôi không dám đoán bừa thay ông. - Ông nói. - Nhưng có một điều ông dặn đi dặn lại, tôi nhớ không sót chữ nào. Bùa trên chiếc nanh này chỉ giữ cho người đeo được yên. Nó không sai khiến được thần rừng. Ai đeo nó mà tưởng mình ra lệnh được cho con heo đó, tưởng mình cầm nó là muốn làm gì trong rừng cũng được, thì người đó tự chuốc họa vào thân.

Ông ngừng lại, rót thêm trà, rồi nói tiếp, giọng chậm và rõ:

- Đêm hai mươi hai, con heo nó dừng lại trước mặt anh, không phải vì nó sợ bùa đâu, anh Lượm. Bùa không làm được chuyện đó. Có lẽ nó dừng lại vì nó nhận ra một thứ gì quen thuộc trên cổ anh, và có lẽ nó nhớ ơn xưa với ông nội anh. Nó nhớ, chứ bùa không ép được nó nhớ. Anh phải phân biệt cho rõ hai chuyện này, vì sắp tới, nếu anh đem theo ý nghĩ rằng chiếc nanh sẽ bảo vệ được tất cả mọi người, sẽ khiến con heo nghe lời anh, là anh hại cả đoàn đó.

Lượm ngồi yên, hai bàn tay đặt lên đầu gối. Những lời này khớp với điều ông đã cảm nhận trong đêm đào lớn mà chưa gọi thành lời được. Lúc đó, con thú không hề tỏ ra sợ hãi. Nó chỉ khựng lại, nhìn, như một người quen cũ bất ngờ gặp lại một vật đã mất từ rất lâu. Rồi nó tự quyết định quay đi. Quyết định đó là của nó, không phải của bùa, cũng không phải của ông.

- Còn một chuyện nữa, anh chưa biết. - Thầy Hớn nói, giọng hạ thấp. - Ông nội anh hồi đó chỉ kể cho cậu Sáu tôi nghe, không kể cho ai khác, kể cả cha anh sau này. Ân nghĩa giữa nhà anh với con heo đó không bắt đầu từ năm 1975 đâu.

- Vậy bắt đầu từ khi nào? - Lượm hỏi.

- Từ năm 1968. - Thầy Hớn đáp. - Năm đó ông nội anh đi rừng, gặp con heo bị một cái bẫy lớn siết gần chết. Người khác thì đã bắn hạ lấy thịt, lấy nanh rồi. Ông nội anh thì tháo bẫy, lấy lá thuốc rừng băng cho nó, ngồi canh tới khi nó đứng lên được mới để nó đi. Cậu Sáu tôi nói, con heo nó nhớ chuyện đó trước, rồi năm 1975 nó mới trả ơn bằng cách đào hầm cứu ông nội anh. Ân qua, nghĩa lại, hai lần như vậy. Nhà anh nợ nó một lần cứu mạng, nó cũng từng mang ơn nhà anh một lần cứu mạng. Chiếc nanh gãy là dấu tích của lần trả ơn thứ hai đó.

Lượm nghe mà sống lưng lạnh đi. Ông nội ông, người thợ săn gan lì nhất vùng, đã giữ kín chuyện năm 1968 suốt cả đời, chỉ để lại lời trối về chiếc nanh và câu dặn không được bán. Có lẽ ông biết, món nợ ân tình này càng ít người biết càng tốt, vì chỉ cần đồn ra ngoài, sẽ có những kẻ như Hùng nhìn chiếc nanh bằng con mắt của tiền bạc và sự trường sinh hoang tưởng.

- Thầy ơi. - Lượm nói sau một lúc lâu. - Nếu Hùng nó quay lại thiệt, nó gài mìn giết con heo để lấy nanh, thì sao?

- Thì nó chết. - Thầy Hớn nói thẳng, không chút do dự. - Không phải bùa hại nó. Là rừng hại nó, là chính cái đất nó đã đào xới hại nó. Anh không cần tôi bói cũng biết chuyện đó. Vấn đề của anh không nằm ở Hùng nữa. Vấn đề là sau khi mọi chuyện qua đi, anh định làm gì với những người đã nằm dưới Đất Lính kia, và với món nợ của nhà anh.

Trước khi Lượm ra về, thầy Hớn cẩn thận đeo lại chiếc nanh lên cổ ông, hai bàn tay già nua run nhẹ khi thắt lại nút dây. Ông giữ tay trên chiếc nanh một lúc, như dặn dò một người quen cũ, rồi mới buông ra.

- Anh nhớ lời cậu Sáu tôi. - Thầy nói. - Nanh trả về rừng, người mới yên. Muốn nó yên, đừng mang súng vào. Mang theo cái lễ, và mang theo đủ những gì tụi nó đã đào lên.

Lượm bước ra khỏi con hẻm, nắng trưa đã lên cao trên mái tôn. Trong đầu ông, hai chữ cái lễ cứ lặp đi lặp lại, rõ dần thành một con đường duy nhất giữa lúc tin về Hùng vẫn bặt vô âm tín và hạn chót của huyện chưa ai nhắc tới thành lời.

---

Chương khác

Xem thêm