HEO LỤC NANH RỪNG U MINH - Chương 44: Trước ngày lễ

Ngày mười ba tháng mười một là ngày cuối cùng trước lễ, và cả đoàn làm việc từ sáng sớm trong một không khí khẩn trương mà lặng lẽ. Trên gò cao Đất Lính,…

Nội dung chương

Ngày mười ba tháng mười một là ngày cuối cùng trước lễ, và cả đoàn làm việc từ sáng sớm trong một không khí khẩn trương mà lặng lẽ. Trên gò cao Đất Lính, Phúc chủ trì buổi kiểm đếm lại toàn bộ hồ sơ và vị trí hài cốt trên nấm mồ chung lần cuối cùng. Từng số thứ tự trong biên bản thu gom được đối chiếu với vị trí đã đặt xuống huyệt: đủ hai mươi bảy bộ, không thiếu một, không lẫn một. Phúc đọc to từng con số, Sang và Phong phụ trách kiểm lại dấu cọc đánh dấu ở chân mồ, Đạt đứng bên cạnh ghi chép bằng tay trái, nét chữ chậm chạp nhưng cẩn thận, không sai một dòng.

- Đủ hai mươi bảy, Phúc nói sau cùng, gấp biên bản lại. Hồ sơ này chiều nay tôi hoàn thiện bản đề xuất công nhận khu mộ liệt sĩ vô danh, gửi lên huyện ngay sau lễ. Nếu đêm mai mọi việc trọn vẹn, hồ sơ này sẽ là căn cứ chính. Còn nếu có chuyện gì ngoài ý muốn, ít nhất giấy tờ về hài cốt cũng đã đầy đủ, không ai chối cãi được.

Lượm đứng bên nấm mồ, nhìn mặt đất mới đắp còn ẩm, nhìn tấm bia tạm khắc tay dưới chân gò. Ông nghĩ tới chặng đường từ hôm mùng hai tới giờ: mười một ngày vớt xương, đắp đất, chạy đua với một hạn chót in trên giấy và với một nỗi sợ in trong lòng người. Tới hôm nay, phần việc của giấy tờ và đất cát gần như đã xong. Phần còn lại thuộc về đêm mai, thuộc về lòng người và thuộc về một con thú không ai điều khiển được.

Buổi trưa, thầy Chín Hớn được Toàn chạy ghe đưa vào Đất Lính. Ông già ngồi dưới lán thờ tạm, gọi cả ba người trẻ tới trước mặt, bắt từng người đọc lại bài khấn của mình. Sang đọc đầu tiên. Giọng cậu ta trầm, chậm, rõ từng chữ, không vấp. Đọc xong, thầy Hớn hỏi:

- Câu này nghĩa là gì, anh nói tôi nghe thử?

Sang trả lời bằng lời của mình, không lặp lại nguyên văn tờ giấy: rằng mình nhận lỗi đã đào mồ người ta vì tiền công, đã buông xương người ta xuống nước vì sợ và vì nghe lệnh, nay xin được đắp lại và giữ cho yên. Thầy Hớn gật đầu hài lòng.

Phong đọc đoạn giữa, giọng trẻ hơn, có chỗ hơi run nhưng không dừng lại. Tới lượt Đạt, cả lán đều im lặng. Đạt cầm tờ khấn bằng tay trái, cánh tay bó bột treo trước ngực, đọc từng câu rất chậm. Đoạn của anh ta là đoạn khó nhất, nhắc tới hai người đã chết trong Đất Lính, nhắc tới Tài bị bùn nuốt trong đêm mười tám tháng mười và Hùng chết chìm trong bùn đen đêm ba mươi tháng mười. Đọc tới tên Hùng, người anh rể đã đưa mình vào rừng, Đạt nghẹn lại, nước mắt chảy xuống mà không đưa tay lau được vì một tay đang cầm giấy, một tay bó bột. Anh ta dừng một lúc lâu, hít một hơi sâu, rồi đọc tiếp cho tới chữ cuối cùng, không bỏ một câu nào.

Thầy Hớn nhìn anh ta, giọng hiền mà nghiêm:

- Đọc như vậy mới gọi là đọc. Khóc cũng được. Dừng cũng được. Miễn là đọc hết bằng cái lòng của mình. Mai đêm lễ, anh cứ đọc y như bữa nay. Người chết nghe được cái thật, không cần cái trơn tru.

Trước khi về nhà, Lượm đi một vòng quanh gò mồ cùng Phúc để kiểm lại những việc nhỏ dễ bị bỏ sót nhất. Dây thừng neo xuồng đã thay mới. Mấy cây đèn dầu dự trữ đã châm đầy dầu và cắt tim đèn ngay ngắn. Nhang được bó lại trong túi nilon chống ẩm. Mâm cơm đạm bạc cho bàn thờ ngày mai đã dặn người trong xóm nấu từ sớm, cơm trắng, cá khô và muối, không hơn. Phúc kiểm tra bộ đàm của vòng ngoài, thử liên lạc với trạm, sóng rõ. Sang và Phong tranh thủ chợp mắt dưới lán để lấy sức, còn Đạt ngồi một mình trước bia tạm, tay trái đặt lên mặt bia lạnh, miệng lẩm nhẩm học lại bài khấn không cần cầm giấy. Lượm nhìn cảnh đó mà trong lòng vừa thương vừa yên tâm được một phần. Ít nhất tới giờ này, không còn ai trong đoàn nghĩ tới chuyện bỏ chạy nữa.

Ông cũng dặn dò lần cuối chuyện giữ im lặng trong đêm lễ. Dân xóm vào dự phải bỏ điện thoại ở vòng ngoài, không chụp ảnh, không quay phim, không bàn tán. Ai sợ thì có quyền đứng xa hoặc ở nhà, không ai ép. Nhưng ai đã vào tới gò mồ thì phải giữ im lặng tuyệt đối từ lúc thầy Hớn thắp nhang cho tới khi lễ xong. Phúc nói anh sẽ đứng ra phổ biến việc này với bà con ngay trong tối nay ở nhà văn hóa ấp để tránh cảnh đêm mai phải nhắc nhở ồn ào trong rừng.

Buổi chiều, Lượm về nhà một lúc để lấy thêm đồ cho đêm lễ. Trong gian buồng quen thuộc, ông tháo chiếc nanh khỏi cổ lần hiếm hoi giữa ban ngày, đặt lên lòng bàn tay mà ngắm. Chiếc nanh dài, cong nhẹ, chân nanh gãy không đều, lớp bạc bọc ngoài đã xỉn màu theo năm tháng, chín chữ bùa Lỗ Ban khắc chìm vẫn còn rõ nét dưới ánh sáng cửa sổ. Ông lấy khăn mềm lau sạch lớp bạc, lau cả sợi dây đeo, rồi đeo lại ngay ngắn trước ngực. Nanh chạm vào da lạnh ngắt như thường lệ. Lạnh tới mức ông có cảm giác như đang áp một viên đá sông lên ngực giữa trưa nắng.

Ông nhớ lời cha mình năm xưa lúc trao nanh: đeo nó, đừng bao giờ bán. Ông nhớ lời ông nội trong những câu chuyện cũ: nanh này là của một ông thần còn sống. Suốt mười năm đeo nanh, Lượm chưa từng hiểu hết những lời đó như những ngày này. Chiếc nanh không cho ông sức mạnh gì. Nó không giúp ông thắng trong cuộc họp huyện, không giúp ông vớt xương nhanh hơn, không giúp ông giữ nấm mồ khỏi nước. Nó chỉ nằm yên trên ngực ông, lạnh khi yên và nóng khi có điềm gở, như một lời nhắc không bao giờ dứt về một món nợ có thật.

Tối đó ở nhà, Lượm dặn Toàn một việc ông đã suy nghĩ kỹ từ mấy hôm trước.

- Đêm mai, con đứng ở vòng ngoài với anh em kiểm lâm, Lượm nói. Dù có chuyện gì xảy ra ở giữa lễ, con cũng không được chạy vào. Nghe rõ chưa? Nếu con thú nó tới, nó tới vì chiếc nanh và vì buổi lễ, không phải vì con. Con chạy vào là rối hết, nguy hiểm cho cả con lẫn mọi người. Con giữ xuồng, giữ đèn dự trữ, giữ đường rút cho cả đoàn. Đó là việc của con.

Toàn im lặng một lúc lâu. Anh đã theo cha vào Đất Lính nhiều lần trong những tuần qua, đã thấy đàn chó nằm bẹp, đã lặn mò bao hài cốt cuối cùng ở rìa lung. Anh hiểu vì sao cha dặn vậy, nhưng làm con, nghe cha dặn mình đứng ngoài trong khi cha đối mặt con thú ở giữa, lòng anh không yên chút nào.

- Con đứng ngoài, Toàn nói sau cùng. Nhưng nếu có chuyện thiệt nguy hiểm tới tính mạng, con không hứa là con đứng yên được đâu, ba.

- Ba biết, Lượm đáp. Ba chỉ dặn để con hiểu vị trí của mình trước. Tới lúc đó, trời tính.

Từ đầu giờ chiều hôm đó, một chuyện khác bắt đầu làm cả đoàn lo lắng. Nước trong các con kinh quanh Đất Lính dâng nhanh bất thường. Mưa chưa lớn, chỉ lất phất từng cơn ngắn, vậy mà mực nước ở chân gò mồ đã cao hơn mọi ngày trong tuần. Toàn chạy ghe một vòng quanh khu đất rồi quay về báo: nước ở kinh nhánh phía sau gò lên gần hai tấc chỉ trong một buổi chiều, chảy xiết hơn hẳn, mang theo rác lá và bọt trắng. Phúc gọi về trạm kiểm tra các điểm đo khác trong vùng, kết quả cũng tương tự: nước đang lên đồng loạt, không rõ nguyên do, có thể do mưa lớn ở thượng nguồn từ đêm trước dồn về.

Tám Rắn được đưa vào Đất Lính vào cuối buổi chiều để xem mồ lần cuối trước lễ. Ông già yếu chân ngồi trên ghế đẩu dưới lán thờ, nhìn mặt nước lấp xấp chân gò, nhìn trời mây đen đặc ở phía tây, rồi nói một câu làm cả đoàn lặng đi.

- Nước lên kiểu này, đêm mai sẽ là đêm nước lớn nhất của mùa.

Không ai cãi lại ông. Dân U Minh sống cả đời với nước nổi đều hiểu nước lên không theo mưa tại chỗ là nước từ xa dồn về, thứ nước khó lường nhất, lên nhanh và rút cũng nhanh, nhưng trong lúc lên thì không gì cản nổi. Lượm nhìn nấm mồ mới đắp trên đỉnh gò. Gò cao, nhưng chân gò đã gần sát mặt nước. Nếu đêm mai nước lớn thật, phần chân mồ và lán thờ tạm sẽ là nơi chịu trước tiên.

Phúc đề xuất tính phương án dự phòng: gia cố thêm bao đất quanh chân gò ngay trong tối nay, chuyển bàn thờ tạm lên vị trí cao hơn sát đỉnh gò, để toàn bộ đèn dầu và đồ lễ ở nơi khô ráo nhất. Cả đoàn đồng ý làm ngay, không chờ sáng mai. Đèn dầu được thắp lên dưới lán, mọi người thay nhau khiêng bao đất trong ánh đèn vàng và tiếng nước vỗ bì bõm quanh chân gò, làm việc tới gần nửa đêm mới xong phần gia cố cơ bản.

Nửa đêm, khi mọi người đã rút về lán nghỉ tạm trong rừng, Lượm một mình cầm đèn ra xem mực nước lần cuối. Ông đi chậm xuống bậc thềm đất dẫn xuống lán thờ tạm cũ dưới chân gò, giơ cao cây đèn dầu. Ánh sáng vàng run rẩy soi xuống mặt nước đen ngay trước mũi giày ông.

Nước đã liếm tới bậc thềm lán thờ tạm dưới chân gò.

Ông đứng lặng ở đó hồi lâu, nghe tiếng nước chảy xiết quanh các cọc tràm và tiếng rừng đêm im phăng phắc. Trên ngực ông, chiếc nanh vẫn lạnh ngắt, chưa đổi nhiệt, như thể chính nó cũng đang nín thở chờ xem đêm mai, đêm nước lớn nhất của mùa, sẽ mang tới điều gì cho một nấm mồ vừa đắp xong và một buổi lễ chưa kịp bắt đầu.

---

Chương khác

Xem thêm