HỔ MÂY NÚI CẤM - Chương 1: Giá Của Món Nợ
Trời chưa sáng hẳn thì người của anh Đen đã đứng ở đầu ngõ nhà Út Mẹo. Đó là một thằng con trai lạ mặt chạy chiếc xe máy cũ. Nó không xuống xe, chỉ chống…
Nội dung chương
Trời chưa sáng hẳn thì người của anh Đen đã đứng ở đầu ngõ nhà Út Mẹo.
Đó là một thằng con trai lạ mặt chạy chiếc xe máy cũ. Nó không xuống xe, chỉ chống chân, gọi vọng vào trong sân còn tối om.
- Út Mẹo đâu. Anh Đen biểu ra quán võng dưới chân núi Cấm liền. Đừng để anh Đen chờ.
Út nghe tiếng gọi từ trong buồng. Cậu ngồi dậy trên chiếc giường tre ọp ẹp, tim đập thình thịch như vừa chạy một quãng dài. Đêm qua cậu gần như không ngủ. Cứ nhắm mắt là cậu lại nghe tiếng mẹ ho khan ngoài chái bếp, nghe tiếng khớp gối của mẹ kêu lách cách mỗi lần bà trở mình. Mẹ cậu, bà Nguyễn Thị Ba, năm nay năm mươi hai tuổi, bán vé số ở chợ Núi Sập, đi chưa hết một buổi chợ đã phải ngồi xuống xoa gối. Nhà chỉ có hai mẹ con. Từ ngày cha mất tích, căn nhà lá ở ấp Núi Sập này chưa có một đêm nào thật yên.
Cậu rón rén bước ra. Bà Ba đã dậy từ lúc nào, ngồi trên chiếc ghế nhựa thấp trước hiên, tay cầm xấp vé số chưa kịp cột thun. Mắt bà đỏ hoe.
- Mẹo, con đừng đi, bà nói khẽ. Giọng bà run như người đang sốt. - Hồi đó cha con cũng đi một chuyến như vầy. Cũng tinh mơ như vầy. Người ta tới gọi, cha con vác ba lô đi, rồi không về nữa.
Út đứng lặng. Cậu mười chín tuổi, vai chưa rộng, tóc còn cháy nắng. Cậu biết mẹ sẽ nói câu đó. Mấy ngày nay, từ khi anh Đen cho người nhắn tin về chuyến đi núi Cấm, mẹ cậu đêm nào cũng nhắc tới cha. Cha cậu là ông Trần Văn Hậu, thợ rừng, mất tích trong rừng núi Cấm năm hai ngàn không trăm lẻ chín, khi Út mới bốn tuổi. Cậu không nhớ mặt cha rõ ràng. Cậu chỉ nhớ qua tấm hình thờ mờ nhòe khói nhang và qua lời kể của ngoại lúc ngoại còn sống. Ngoại nói cha cậu hiền, đi rừng giỏi, thuộc từng con suối trên núi Cấm như thuộc đường chỉ tay.
- Má, con không đi thì nhà mình lấy gì trả nợ, Út nói, cổ họng khô khốc. - Giấy nợ còn đó. Anh Đen giữ giấy. Ổng nói nếu con không đi, ổng sẽ tới chợ nói cho người ta biết nhà mình quỵt tiền. Má còn bán buôn gì được nữa.
Bà Ba cúi mặt xuống xấp vé số. Nước mắt bà rơi xuống tờ giấy mỏng, làm nhòe con số in trên đó. Bà không cãi được. Món nợ ba mươi triệu đồng, theo lời anh Đen, là món nợ cha cậu vay từ chuyến đi năm hai ngàn không trăm lẻ chín, trước khi mất tích. Giấy nợ có chữ ký của cha, có dấu lăn tay. Năm nào anh Đen cũng cho người tới nhắc một lần, không đòi gắt, chỉ nhắc cho nhà cậu nhớ. Năm nay hắn đòi dứt điểm. Hoặc trả tiền, hoặc Út đi theo hắn một chuyến lên núi, làm lụng trừ nợ.
Nhà Út làm gì có ba mươi triệu. Tiền thuốc khớp cho mẹ một tháng đã ngốn gần hết tiền vé số. Tiền gạo còn phải mua chịu ở tiệm đầu ấp.
Út vào buồng, lấy chiếc ba lô vải cũ của cha treo sau vách, bỏ vào hai bộ đồ, áo mưa mỏng và chai dầu gió mẹ dúi cho. Khi cậu bước ra sân, trời mới hửng một vệt xám ở phía đông, phía núi Cấm còn chìm trong sương dày như khói bếp.
- Con đi năm ngày thôi má, Út nói, cố làm giọng mình cứng lên. - Xong chuyến này là hết nợ. Con về, con đi phụ hồ hay đi giữ rẫy cũng được, không đi rừng nữa.
Bà Ba nắm lấy tay cậu. Tay bà gầy, khớp ngón tay sưng lên, lạnh ngắt.
- Lên trển, thấy gì lạ thì đừng ham, bà dặn. - Nghe lời ngoại dặn hồi nhỏ đó. Nhớ chưa.
Út gật đầu. Cậu không dám nhìn lâu vào mắt mẹ. Cậu sợ nếu nhìn lâu, cậu sẽ bỏ ba lô xuống và ở lại, rồi anh Đen sẽ tới tận nhà. Cậu bước ra ngõ, leo lên xe của thằng con trai lạ mặt. Xe chạy qua những con đường đất còn ướt sương của Thoại Sơn, qua chợ Núi Sập chưa mở cửa. Út ngoái lại một lần. Bóng mẹ cậu nhỏ dần sau hàng cau, đứng một mình trước hiên nhà tối.
Điểm tập kết là quán cà phê võng dưới chân núi Cấm, thuộc xã An Hảo. Quán nằm sát đường lên núi, mái tôn thấp, mấy chiếc võng dù mắc dọc theo hàng cột gỗ. Khi Út tới, trời đã sáng rõ. Sương trên núi Cấm vẫn chưa tan, đỉnh núi khuất sau một lớp mây trắng đục, trông như ai treo một tấm màn lớn giữa trời.
Anh Đen đã ngồi đó từ trước.
Huỳnh Văn Đen, bốn mươi bảy tuổi, người xã An Hảo, vai rộng, cổ ngắn, mặt vuông và sạm nắng. Hắn mặc áo sơ mi lính đã bạc màu, tay áo xắn tới khuỷu, để lộ cánh tay đầy sẹo cũ của người từng làm kiểm lâm. Trước mặt hắn là ly cà phê đen đã uống cạn một nửa và một khẩu súng hoa cải hai nòng dựng sát chân ghế, báng súng bóng lên vì tay người cầm nhiều năm. Út mới bước vào, hắn đã ngẩng lên nhìn, ánh mắt không vui cũng không giận, chỉ như người chủ đang kiểm hàng.
- Tới rồi hả, Đen nói. - Ngồi xuống ăn miếng bánh mì rồi đi. Đừng để bụng đói leo núi, xỉu giữa đường tao không cõng đâu.
Út ngồi xuống mép võng, không dám ngồi sâu. Lần lượt những người còn lại cũng đã có mặt đủ.
Lê Văn Sáu Lì, ba mươi tám tuổi, quê Châu Đốc, ngồi ở võng trong cùng. Hắn cao, gầy, ít nói. Trên đùi hắn là khẩu súng săn một nòng được lau chùi cẩn thận. Hắn chỉ gật đầu với Út một cái rồi lại cúi xuống kiểm tra dây đeo súng. Út nghe người ta nói Sáu Lì ngày trước là thợ săn bắn thuê, sau khi vợ sinh con trai thì giải nghệ. Hắn đi chuyến này, nghe đâu cũng vì một món nợ gì đó với Đen mà không ai rõ.
Phạm Văn Ba Gai, ba mươi ba tuổi, quê Tịnh Biên, thì ồn ào trái hẳn. Hắn vừa nhai bánh mì vừa kể chuyện đào trầm ở các cánh rừng Bảy Núi, nói hắn đào trầm thuê mười năm, ngửi mùi đất là biết dưới đó có trầm hay không. Hắn vỗ vỗ vào chiếc cuốc chim buộc bên hông ba lô, khoe như khoe của quý.
- Chuyến này mà trúng, tao mua đất cất nhà lầu cho má tao ở Tịnh Biên luôn, Ba Gai cười, răng vàng vì thuốc lá. - Út Mẹo, mày theo anh chuyến này là có phước đó. Ở nhà bán vé số với má mày biết chừng nào mới ngóc đầu lên.
Út không đáp. Cậu cắn miếng bánh mì khô khốc, nuốt xuống mà như nuốt một cục đá.
Người cuối cùng là Nguyễn Văn Tám Râu, hai mươi chín tuổi, quê An Phú. Hắn để râu quai nón rậm, cổ đeo lủng lẳng mấy lá bùa gói trong túi vải đỏ và vàng. Hắn lo phần hậu cần máy móc. Dưới chân hắn là chiếc cưa máy còn mới, cuộn dây đèn, hai chiếc đèn pin lớn, máy phát điện nhỏ và mấy bình xăng con. Hắn vừa kiểm tra cưa vừa lẩm bẩm khấn, tay sờ lên từng lá bùa như điểm danh.
- Đồ đạc đủ chưa Tám, Đen hỏi.
- Đủ anh, Tám Râu đáp. - Cưa em mới thay xích. Đèn đủ pin cho năm đêm. Máy phát nhỏ gọn, xăng em mang dư hai bình. Vô rừng là em lo hết phần máy móc, anh khỏi bận tâm.
Đen đứng dậy. Hắn cao lớn, bóng hắn đổ dài trên nền đất ẩm của quán. Hắn đi một vòng quanh đống đồ, kiểm tra từng thứ bằng con mắt của một cựu kiểm lâm hạt Bảy Núi. Người ta nói hắn từng là kiểm lâm giỏi nhất vùng, thuộc từng lối mòn, từng trạm gác, rồi bị sa thải năm hai ngàn mười chín vì tiếp tay cho lâm tặc. Từ người giữ rừng, hắn thành người phá rừng rành đường nhất. Út nhìn cách hắn buộc lại dây ba lô, cách hắn ngửi gió, trong lòng vừa sợ vừa không thể không nể.
- Nghe tao nói cho rõ một lần, Đen nói, giọng không lớn nhưng cả quán đều im. - Mục tiêu là một cội trầm trong một thung lũng kín trên núi Cấm. Đường đi tao thuộc. Thời gian là năm ngày. Ngày đi, ngày về, ba ngày ở trong đó làm việc. Lấy được trầm, chia theo đầu người, công ai nấy hưởng. Ai làm biếng, ai cãi lệnh, tao trừ phần. Ai bỏ trốn giữa rừng, tự chịu với rừng, tao không quay lại kiếm.
Hắn dừng lại, nhìn thẳng vào Út.
- Riêng mày, Mẹo, phần của mày trừ thẳng vào món nợ. Xong chuyến này, giấy nợ xé bỏ trước mặt má mày. Hiểu chưa.
Út gật đầu. Cổ họng cậu nghẹn lại.
Đen cúi xuống, nhấc chiếc ba lô nặng nhất trong đống đồ lên. Trong ba lô là dụng cụ đào, nồi niêu, gạo, mắm, võng và bạt. Hắn quăng chiếc ba lô về phía Út. Chiếc ba lô rơi xuống đất, nặng trịch, bụi bay lên mờ mờ.
- Mày trẻ nhất, khỏe nhất, vác cái này, hắn nói. - Với lại nấu ăn, dựng lán, chạy việc. Mày làm cho tử tế thì nợ nần xong xuôi.
Út cúi xuống, xốc ba lô lên vai. Quai ba lô siết vào vai cậu đau điếng. Cậu loạng choạng một bước rồi đứng vững lại. Ba Gai cười khẩy. Sáu Lì nhìn cậu một thoáng, không nói gì, rồi quay đi. Tám Râu thì thầm một câu khấn nữa rồi vác cưa máy lên vai.
Đen không quay đầu lại khi bà chủ quán nói với theo về mùa mưa trên núi Cấm. Hắn bước đi đầu tiên, súng hoa cải vác trên vai. Sáu Lì đi thứ hai, súng săn đeo chéo. Ba Gai và Tám Râu đi giữa, vừa đi vừa nói chuyện tiền bạc. Út đi cuối đoàn, ba lô nặng trĩu, mỗi bước chân lún sâu xuống đất ướt.
Đi được một quãng, khi quán võng đã khuất sau khúc cua và tiếng xe cộ dưới chân núi đã lùi xa, Đen bất ngờ đi chậm lại, chờ Út bắt kịp. Hắn đi sóng vai với cậu một đoạn ngắn, giữa hai bên là rẫy mì và những cây thốt nốt đứng lặng trong sương.
- Mẹo, hắn nói, giọng hạ xuống chỉ đủ cho hai người nghe, nhưng từng chữ rõ như đóng đinh. - Cha mày chết còn nợ tao ba chục triệu. Mày đi chuyến này cho tử tế là trả được hết.
Út cúi đầu nhìn xuống đôi dép tổ ong sứt quai của mình đang lội trong đất đỏ. Cậu muốn hỏi cha cậu vay tiền để làm gì, muốn hỏi vì sao giấy nợ chỉ tới tay nhà cậu sau khi cha đã mất, muốn hỏi chuyến đi năm đó rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì. Nhưng miệng cậu như bị ai dán lại. Đằng trước, Sáu Lì và Ba Gai đã đi xa một quãng. Đằng sau, chỉ còn tiếng bước chân của chính cậu và tiếng ba lô cọ vào lưng áo ướt mồ hôi dù trời còn sớm.
Cậu không thấy được ánh mắt của Đen lúc đó. Khi nói xong câu về món nợ, Đen liếc nhìn lên phía đỉnh núi Cấm đang khuất trong mây, rất lâu, với vẻ của một người không phải lần đầu quay lại nơi này. Rồi hắn lại bước nhanh lên đầu đoàn, để Út một mình ở cuối, vác món nợ của cha trên vai, theo đúng nghĩa đen của nó, mà leo lên núi.