HỔ MÂY NÚI CẤM - Chương 2: Người Dẫn Đường Quay Xuống
Ông Hai Tràm đã chờ sẵn ở cuối con đường đất, chỗ rẫy mì của dân An Hảo chấm dứt và đường mòn lên núi bắt đầu. Ông sáu mươi mốt tuổi, người dẫn đường…
Nội dung chương
Ông Hai Tràm đã chờ sẵn ở cuối con đường đất, chỗ rẫy mì của dân An Hảo chấm dứt và đường mòn lên núi bắt đầu.
Ông sáu mươi mốt tuổi, người dẫn đường chân núi có tiếng nhất vùng này, lưng hơi còng nhưng bước chân còn nhanh hơn thanh niên. Ông mặc bộ bà ba nâu đã sờn, đầu đội nón lá cũ, tay cầm cây gậy tre và một con dao phát cỏ. Thấy đoàn người tới, ông không chào hỏi dài dòng, chỉ nhìn lướt qua từng khuôn mặt, rồi dừng lại lâu hơn một chút ở Út Mẹo.
- Con của thằng Hậu đó hả, ông hỏi.
Út gật đầu, tim nhói lên một cái. Đã lâu lắm rồi cậu mới nghe có người gọi cha cậu bằng cái giọng thân thuộc như vậy, như thể cha cậu chỉ vừa đi đâu đó mấy ngày chứ không phải mất tích mười lăm năm.
- Ừ, giống cha mày hồi trẻ, Hai Tràm nói, rồi quay sang Đen. - Giao kèo cũ sao thì làm vậy nghen Đen. Tao dẫn tới bìa rừng già. Quá bìa đó, tao không đi.
- Biết rồi, Đen đáp gọn. - Tiền đây, đếm đi.
Hắn móc trong túi áo ra một xấp tiền lẻ đã cột thun, đưa cho ông già. Hai Tràm đếm chậm rãi từng tờ trước mặt cả đoàn, không hề ngại ngùng, rồi cất vào túi áo trong.
Đường mòn từ chân núi đi lên thoai thoải lúc đầu. Hai bên là rẫy mì, rẫy điều của dân An Hảo, lá còn ướt sương đêm. Xa hơn một chút là những cây thốt nốt đứng thành hàng, thân cao thẳng, tán lá xòe ra như những chiếc quạt khổng lồ lặng im trong gió sớm. Út đi cuối đoàn như cũ, ba lô nặng làm vai cậu ê ẩm ngay từ quãng đầu. Nhưng cậu không dám than. Cậu cố bám theo nhịp chân của những người đi trước, mắt nhìn xuống đường để tránh những hốc đá và rễ cây trồi lên trơn trượt.
Ông Hai Tràm đi đầu, vừa đi vừa chỉ đường bằng cây gậy tre, giọng đều đều như người đang đọc một bài thuộc lòng từ rất lâu.
- Thấy cây dầu có ba vết khía ngang thân kia không, ông nói. - Dân đi rừng khía vậy là dấu báo phía trước có hốc đá tránh mưa. Mưa núi Cấm tới nhanh lắm, đang nắng đó, quay lưng lại là mưa. Vô hốc đá thì ngồi im, đừng chạy. Chạy là té.
Đi thêm một quãng, ông dừng lại bên một con suối cạn, chỉ xuống lòng suối toàn đá cuội trắng.
- Suối này mùa khô thì cạn, mùa mưa nước về trong một buổi chiều. Thấy nước đổi màu đục như nước vo gạo là phải lên chỗ cao liền, đừng tiếc đồ đạc. Nước núi nó không chờ ai đâu.
Ba Gai nghe tới đó thì cười khì.
- Ông Hai, ông dặn thằng nhỏ thôi, chớ tụi tui đi rừng quen rồi. Nước non gì mà sợ.
Hai Tràm không cười lại. Ông nhìn Ba Gai một cái rất nghiêm.
- Đi rừng quen mà không biết sợ mới chết sớm đó con, ông nói. - Núi này nó không giống mấy cánh rừng tràm dưới đồng bằng đâu.
Càng lên cao, rẫy thưa dần. Những cây rừng đầu tiên xuất hiện, thân to, vỏ sẫm, rêu bám xanh ở phía không có nắng. Không khí đổi mùi. Không còn mùi đất rẫy khô và mùi phân bò, mà là mùi lá mục ẩm, mùi vỏ cây ngai ngái, mùi của một nơi quanh năm ít thấy mặt trời. Tiếng chim cũng khác, thưa hơn, và mỗi tiếng kêu vang lên đều nghe rõ mồn một rồi tắt ngấm, như bị rừng nuốt mất.
Đen đi ngay sau Hai Tràm, súng hoa cải vác vai, thỉnh thoảng lại hỏi một câu ngắn về lối rẽ hay nguồn nước, và ông già trả lời cũng ngắn gọn. Út để ý, Đen hỏi câu nào cũng trúng vào chỗ hiểm của đường rừng, như người đã từng đi tuyến này rồi mà vẫn muốn kiểm tra lại trí nhớ của mình. Có những khúc cua, Đen còn đi trước cả Hai Tràm nửa bước, chân bước không hề do dự ở những chỗ ngã ba mà người mới tới lần đầu không thể nào phân biệt được.
Ý nghĩ đó làm Út lạnh người. Lời mẹ cậu nói lúc tinh mơ lại vang lên. Cha cậu cũng đi một chuyến như vầy. Và người dẫn đường hôm nay là bạn cũ của cha cậu.
Tới gần trưa, rừng già hiện ra trước mặt như một bức tường.
Đó không phải là bìa rừng thưa như ở dưới. Đó là một hàng cây cổ thụ ken dày, thân nào cũng hai ba người ôm, tán lá chồng lên nhau thành một mái vòm xanh đen, dưới đó tối om dù đang giữa ban ngày. Gió từ trong rừng già thổi ra mang theo hơi lạnh và mùi tanh rất nhẹ, thứ mùi Út chưa từng ngửi thấy ở đồng bằng. Cả đoàn dừng lại ở khoảng đất trống cuối cùng còn có nắng.
Ông Hai Tràm chống gậy, quay mặt lại nhìn cả đoàn. Mặt ông lúc này nghiêm trang một cách lạ lùng, khác hẳn vẻ xuề xòa lúc ở dưới chân núi.
- Tới đây thôi, ông nói. - Từ bìa này trở vô là rừng già. Tao không vô nữa.
Đen nhíu mày. Hắn bước tới gần ông già, rút thêm một xấp tiền nữa, gấp đôi phần vừa trả.
- Ông Hai, đi thêm một ngày nữa thôi. Dẫn tụi tui tới cửa thung lũng rồi ông quay xuống cũng được. Tiền gấp đôi đây, cầm đi. Ở tuổi ông, làm gì ra số tiền này trong một ngày.
Cả đoàn im lặng nhìn. Út thấy tay Đen đưa xấp tiền ra rất gần mặt ông già, như một phép thử.
Hai Tràm nhìn xấp tiền một lúc lâu. Rồi ông lắc đầu, chậm rãi và dứt khoát, đẩy tay Đen trở lại.
- Tiền thì tao ham chớ, ông nói. - Nhưng có những chỗ, tiền nhiều cách mấy cũng không mua được cái mạng mình quay ra. Rừng trên đó, từ sau năm hai ngàn không trăm lẻ chín, tao không bước vô nữa. Tao nói một lần thôi, Đen à. Mày cũng nên nhớ năm đó hơn tao chớ.
Câu nói làm mặt Đen sầm xuống. Hai người đàn ông nhìn nhau một lúc lâu không ai nói gì. Út đứng ở phía sau, tim đập mạnh trong lồng ngực. Năm hai ngàn không trăm lẻ chín. Lại là năm đó. Năm cha cậu mất tích.
Cuối cùng Đen cất tiền vào túi, cười nhạt.
- Ông già rồi, nhát gan cũng phải. Thôi, ông xuống đi. Đường còn lại tao thuộc.
- Ừ, mày thuộc, Hai Tràm đáp, giọng bỗng nhỏ lại. - Mày thuộc thiệt. Vì mày là người duy nhất đi ra được mà.
Hắn nói câu đó xong, cả khoảng đất trống lặng đi. Sáu Lì ngẩng đầu lên nhìn hai người. Ba Gai thôi không cười nữa. Tám Râu vô thức sờ lên mấy lá bùa trên cổ.
Ông Hai Tràm quay sang Út. Ông nhìn cậu từ đầu tới chân, ánh mắt có gì đó như thương xót, như muốn nói một điều mà trước mặt Đen ông không thể nói hết.
- Mẹo, ông nói khẽ. - Lại đây ông dặn cái này.
Út bước tới. Ông già kéo cậu đi xa ra mấy bước, tới sát một gốc cây dầu lớn, lưng quay về phía đoàn người. Ông nói rất nhỏ, chỉ đủ cho Út nghe.
- Đoàn thợ rừng năm hai ngàn không trăm lẻ chín, vô rừng này sáu người, ông nói. - Cha mày là một. Thằng Đen là một. Chỉ một người trở ra thôi. Là thằng Đen. Mười lăm năm nay, không ai trong xóm dám hỏi nó rốt cuộc trong đó xảy ra chuyện gì, vì hỏi cũng vô ích, nó không bao giờ nói. Má mày chỉ biết cha mày mất tích. Nhưng tao nói cho mày biết để mày liệu thân. Đi theo nó, mắt phải mở, tai phải nghe, miệng phải khóa.
Út sững người. Cậu cảm thấy đất dưới chân mình như vừa trũng xuống. Suốt mười lăm năm, gia đình cậu sống với hai chữ mất tích, thắp nhang cho một người không có mộ, không có xác, không có một lời giải thích. Cậu chưa bao giờ nghĩ người cầm đầu đoàn hôm nay, người giữ giấy nợ của nhà cậu, lại chính là người duy nhất sống sót trở về từ chuyến đi đã nuốt mất cha cậu.
- Ông Hai, vậy cha con, Út lắp bắp. - Cha con chết thiệt rồi sao. Sao anh Đen không nói gì hết trơn vậy ông.
- Tao không biết hết, ông già đáp, mắt nhìn vào khoảng rừng tối om trước mặt. - Tao chỉ là người dẫn đường ở chân núi như bữa nay thôi. Tao chỉ biết một điều. Người biết rõ nhất cha mày ra sao, đang đứng đằng kia, vác súng chờ mày đi tiếp đó.
Đúng lúc đó, tiếng Đen vang lên từ phía sau, sắc và lạnh.
- Dặn dò gì lâu vậy ông Hai. Kiểm tra súng, lên đường. Trời sắp mưa rồi.
Hai Tràm vỗ nhẹ lên vai Út, rồi lục trong túi áo lấy ra một nắm lá thuốc lào khô, dúi vào tay cậu. Bàn tay ông già khô và chai sần, nắm rất chặt tay cậu trong một thoáng.
- Cầm lấy, khi nào lạnh quá hay sợ quá thì ngửi, cho tỉnh người, ông nói. Rồi ông hạ giọng xuống nữa, gần như thì thầm vào tai Út. - Vào trong đó, thấy cái gì cũng đừng gọi bậy. Nhất là ban đêm. Nhớ cho kỹ lời tao. Đừng gọi bậy.
Ông buông tay, chống gậy quay xuống núi. Bóng ông nhỏ dần giữa những cây thốt nốt và rẫy mì, không một lần ngoái lại.
Út đứng yên một lúc lâu, nắm lá thuốc lào trong tay đã ướt mồ hôi. Cậu chưa hiểu gọi bậy là gọi cái gì, và vì sao một người dẫn đường già dặn như ông Hai Tràm lại phải dặn đi dặn lại một điều nghe như chuyện con nít như vậy.
- Đi, Mẹo, tiếng Đen gọi. - Đứng đó làm gì.
Út quay người, xốc lại ba lô nặng trên vai, và bước theo đoàn vào bức tường rừng già đang tối om trước mặt. Ngay khi cậu bước qua bìa rừng, hơi lạnh từ trong rừng phả vào mặt cậu rõ rệt như vừa mở cửa một căn hầm sâu. Sau lưng cậu, nắng trưa vẫn còn vàng trên rẫy mì. Trước mặt cậu, không còn một tia nắng nào lọt xuống tới mặt đất.