HỔ MÂY NÚI CẤM - Chương 50: Miếu Ông Mây

Ngày mười lăm tháng mười một năm hai ngàn hai mươi bốn, đầu mùa khô, Út Mẹo thức dậy trước khi gà trong xóm An Hảo gáy lượt đầu. Ba tháng đã qua từ đêm…

Nội dung chương

Ngày mười lăm tháng mười một năm hai ngàn hai mươi bốn, đầu mùa khô, Út Mẹo thức dậy trước khi gà trong xóm An Hảo gáy lượt đầu.

Ba tháng đã qua từ đêm bão trên núi Cấm. Căn nhà nhỏ ở chân núi mà cậu thuê lại của một người quen của ông Hai Tràm có hiên hướng về phía đường lên núi. Mỗi sáng, trước khi mặt trời chạm tới những mái nhà trong làng, cậu pha một ấm trà, mở cửa hiên, nhìn lên đỉnh Thiên Cấm Sơn còn phủ sương và nghe tiếng chuông đồng rất xa từ am của Năm Tịnh khi gió đưa xuống đúng hướng.

Không phải sáng nào cũng nghe được chuông. Có sáng chỉ có tiếng chim, tiếng xe máy đầu tiên ngoài đường, tiếng người trong làng gọi nhau ra đồng. Nhưng Út đã quen với việc lắng nghe. Đó là một phần của nếp sống mới mà chính cậu cũng không ngờ mình sẽ có khi bị ép vác đồ lên núi vào một buổi sáng tháng tám.

Cội trầm trong Thung Lũng Cấm giờ đã được rào lại.

Việc ấy làm trong nhiều tuần của tháng chín và tháng mười, khi đường núi khô hơn và vết thương của những người sống sót đã lành dần. Trạm kiểm lâm chân núi, đứng đầu là trạm trưởng Võ Văn Thắng, cùng dân làng An Hảo dựng hàng rào gỗ và dây kẽm quanh khoảng đất quanh gốc cây, chừa một lối kiểm tra hẹp chỉ người của trạm mới được vào. Cây trầm vẫn đứng đó với vết cưa đã khô, đường nứt ở gốc được theo dõi qua từng mùa mưa nhỏ, và chiếc vảy xám bạc cắm sâu trong rễ vẫn ánh lên mỗi khi nắng xuyên qua tán.

Tấm biển cấm mới được dựng lên ngay chỗ tấm biển cũ bị Đen bẻ gãy ngày đầu.

Biển mới bằng gỗ tốt, chữ sơn rõ ràng, đóng trên hai cọc chắc ở bìa thung lũng. Bên dưới dòng chữ chính thức của trạm kiểm lâm, dân làng thêm một dòng chữ tay, nét sơn không đều nhưng đọc lên thì ai cũng hiểu: cấm vào thung lũng. Út là người giữ cọc phụ khi trạm trưởng Thắng đóng chiếc đinh cuối cùng. Cậu không nói gì lúc đó. Cậu chỉ nhớ tới tiếng biển cũ gãy trong tay Đen, nhớ tiếng nó bị quăng xuống suối, và thấy một việc rất nhỏ trong đời mình vừa được đặt lại đúng chỗ, như phiến đá ở miệng hang trong đêm bão.

Ở bìa thung lũng, cách hàng rào một đoạn ngắn, dân An Hảo tự lập một miếu nhỏ thờ Ông Mây.

Không ai bảo ai. Sau đêm bão, chuyện trên núi được kể lại trong làng theo nhiều lớp: có người chết, có người được khiêng xuống, có một ông đạo giữ núi bị thương, có một làng suýt gặp nạn mà không hề hay biết. Dân làng không biết hết sự thật về vảy ngọc và mạch nước ngầm, và Út cũng không bao giờ kể hết. Nhưng họ biết đủ để hiểu thung lũng ấy không phải nơi muốn vào là vào. Họ góp gỗ, góp ngói, góp công, dựng một miếu nhỏ dưới tán cây, trong đó không có tượng tạc cầu kỳ, chỉ có một bát nhang, một phiến đá sạch và một khoảng trống hướng về miệng hang xa.

Sáng mười lăm tháng mười một, Út lên bìa thung lũng cùng Sáu Lì.

Sáu Lì đã lành xương sườn. Hắn đi chậm, còn chống nạng ở những đoạn dốc, đúng như hắn từng nói đùa trong trạm y tế rằng người gãy sườn lành rồi vẫn nhớ đường đau. Vợ hắn, chị Hồng, và con trai Bảo đi cùng lên tới bìa rừng, rồi dừng lại ở khoảng đất bằng trước miếu theo lời dặn của chính Sáu Lì. Hắn muốn tự chống nạng đi đoạn cuối.

- Anh đi được không? - Út hỏi khi dốc bắt đầu cao hơn.

- Được. Chậm thôi. - Sáu Lì dừng lại thở, nhìn lên tán cây. - Hồi trước anh đi rừng, anh chỉ sợ đi chậm thì mất dấu con thú. Giờ anh mới biết đi chậm cũng là một cách đi.

Hắn thắp nhang ở miếu Ông Mây.

Ba nén nhang được cắm ngay ngắn vào bát nhang. Sáu Lì chống nạng bằng một tay, tay còn lại chắp trước ngực, cúi đầu rất lâu. Hắn không nói lớn lời khấn. Út đứng bên cạnh cũng cúi đầu, nghĩ tới ba nấm mộ nằm rải trên sườn núi: Đen và Tám Râu ở bờ suối Đá Bàn, Ba Gai với mộ gió bên vực Hóc Bà. Mùa khô này, trạm kiểm lâm đã lên kiểm tra lại các dấu mộ theo lời chỉ đường của Út. Chúng vẫn ở đó, yên lặng dưới tán rừng, thuộc về núi nhiều hơn thuộc về người.

- Anh hứa với người chết là anh sẽ lên thắp nhang khi lành, - Sáu Lì nói sau khi ngẩng đầu lên. - Nay anh làm được rồi. Từ nay mỗi năm tới mùa này, anh lên một lần. Không vào sâu. Chỉ tới đây thôi.

Ông Hai Tràm cũng có mặt ở miếu hôm đó. Ông già sáu mươi mốt tuổi, bạn cũ của cha Út, người đã dẫn nhóm tới bìa rừng vào ngày đầu rồi nhất quyết quay xuống, đứng lặng rất lâu trước bát nhang. Ông không vào thung lũng. Ông chỉ nhìn hàng rào và tấm biển mới, rồi gật đầu với Út.

- Cha mày mà còn, - ông nói, - chắc nó cũng đứng ở chỗ này như mày thôi.

Út không đáp. Cậu đã biết cha mình chết như thế nào. Sau ngày về nhà bà Tám Lụa, cậu đã về Núi Sập một chuyến, ngồi với mẹ rất lâu trong căn nhà nhỏ gần chợ, và kể cho mẹ nghe phần sự thật thuộc về cha: ông không bỏ đi, không mất tích vì ham một chuyến rừng. Ông chết vì quay lại cứu người trong đêm mưa năm hai ngàn lẻ chín. Mẹ cậu khóc, nhưng đó là cái khóc khác với mười lăm năm chờ một người mất tích. Bà có một nơi để đặt nỗi đau xuống. Tháng mười một này, bà lên An Hảo thăm con, và chính tay bà thắp ở miếu Ông Mây một nén nhang muộn mười lăm năm cho chồng mình.

Bà Ba đứng trước miếu lâu hơn tất cả mọi người hôm bà lên. Bà không biết khấn gì cho một thần thú giữ núi. Bà chỉ nói nhỏ như nói với người nhà.

- Ông giữ núi, giữ luôn phần chồng tôi nằm lại trên này giùm tôi.

Út đứng sau lưng mẹ, mắt cay, nhưng không chen vào.

Sau ba tháng, Út đã không về hẳn Núi Sập để sống như trước.

Cậu ở lại chân núi Cấm, làm nghề dẫn đường cho khách lên núi theo những đường an toàn mà trạm kiểm lâm cho phép. Công việc không làm cậu giàu. Nó cho cậu một chỗ ở, một lý do để dậy sớm, và một việc hợp với thứ duy nhất cậu học được đến nơi đến chốn trong chuyến đi định mệnh ấy: biết đường nào được đi, đường nào phải dừng.

Trước mỗi chuyến dẫn khách, Út đều kể lệ núi.

Cậu kể đúng từng lời như ngoại đã dạy và như Năm Tịnh đã truyền lại. Lên núi Cấm phải giữ miệng, giữ tay. Thấy rắn lớn thì gọi Ông, cúi đầu, lui lại. Không lấy đá, lấy cây, lấy bất cứ thứ gì từ những nơi đã có biển cấm. Không chửi thề trong rừng sâu. Không vì một tấm ảnh đẹp mà bước qua hàng rào. Khách trẻ thường cười lúc đầu, cho là chuyện dọa nhau của người dẫn đường địa phương. Út không tranh cãi. Cậu chỉ dẫn họ đi đúng đường, và khi ngang qua những đoạn rừng lặng gió mà đọt cây bỗng rung nhẹ vì một con chim lớn bay qua, cậu để họ tự im lặng.

Chiếc khăn rằn của Năm Tịnh, cậu mang trong những chuyến đi quan trọng. Nó đã cũ thêm, nhưng vẫn được gấp cẩn thận trong túi áo khi không dùng. Mỗi lần chạm vào mép khăn sờn, cậu nhớ câu nói ở trạm y tế: núi này từ nay có thêm một người giữ.

Năm Tịnh đã quay về am trên đỉnh từ khi tay trái lành đủ để chống gậy leo đường mòn sau mùa mưa. Ông vẫn bó một dải vải quanh cẳng tay trong những ngày trở trời. Tiếng chuông đồng của ông lại vang vào những buổi sớm mùa khô, thưa hơn mùa mưa, nhưng đều. Thỉnh thoảng Út mang thuốc, trà và ít đồ khô lên am cho ông theo đường an toàn vòng qua sườn khác, ngồi uống với ông một chén trà, nghe ông dặn những việc nhỏ. Đó là kiểm tra biển cấm sau bão, nhắc dân làng không đốt lửa gần hàng rào trầm, để ý khách lạ hỏi đường vào thung lũng.

- Mày giữ chân núi, - ông nói trong lần gặp gần nhất. - Tao giữ trên này. Vậy là đủ. Núi không cần nhiều người giữ. Chỉ cần người giữ đừng bỏ đi khi thấy việc khó.

Đêm mười lăm tháng mười một, sau một ngày dẫn khách và lên miếu, Út trở về căn nhà nhỏ ở chân núi. Làng An Hảo lên đèn. Khói bếp tan vào trời tối. Trăng sáng treo trên đỉnh Cấm, tròn và tĩnh, chiếu xuống những mái nhà nguyên vẹn mà ba tháng trước suýt không còn buổi sáng nào nữa.

Trời lặng gió hoàn toàn.

Út đứng trước hiên nhà, tay cầm chén trà đã nguội, ngẩng lên nhìn khoảng tối của rừng già trên cao. Không có tiếng chuông. Không có tiếng người. Chỉ có tiếng côn trùng đầu mùa khô rỉ rả quanh sân và tiếng tim cậu đập chậm trong một đêm yên.

Rồi, từ trên đỉnh núi Cấm, đọt cây rừng già rạp xuống rào rào một lượt rất dài.

Âm thanh ấy chạy vòng quanh phía Thung Lũng Cấm, qua những tán cây mà cậu đã thuộc từng đoạn trong năm ngày kinh hoàng, mang theo một luồng lay động vô hình dù mặt đất dưới chân núi không có một cơn gió nào. Những chiếc lá trong sân nhà cậu vẫn yên. Mặt trà trong chén vẫn phẳng. Chỉ có rừng trên đỉnh là vừa có một sinh vật khổng lồ lướt qua trên đọt cây, chậm rãi, quen thuộc, như một người chủ già đi kiểm tra lãnh thổ của mình trong đêm.

Rồi đọt cây yên lặng trở lại.

Út đứng yên một lúc lâu, khăn rằn của Năm Tịnh vắt trên vai, mắt hướng lên bóng núi đen dưới trăng.

Cậu khẽ nói một mình, đủ cho đêm nghe, đúng một câu như lệ đã dạy từ ngày còn nhỏ.

- Ông đi tuần hả Ông.

Chương khác

Xem thêm