HỔ MÂY NÚI CẤM - Chương 48: Ba Nấm Mộ Trên Sườn Núi
Việc đầu tiên Út làm sau khi Năm Tịnh ngất là giữ cho ông sống, việc thứ hai là chôn người chết. Ông đạo nằm trên nền đất khô dưới gốc cây lớn gần miệng…
Nội dung chương
Việc đầu tiên Út làm sau khi Năm Tịnh ngất là giữ cho ông sống, việc thứ hai là chôn người chết.
Ông đạo nằm trên nền đất khô dưới gốc cây lớn gần miệng hang, hơi thở mỏng nhưng đều dần khi nắng lên cao hơn. Sáu Lì sốt đã hạ từ cuối đêm, người còn yếu, xương sườn gãy làm hắn không tự ngồi dậy được, nhưng đầu óc hắn tỉnh táo. Hắn nằm trên phiến đá, chỉ cho Út cách kiểm tra mạch ở cổ tay Năm Tịnh, cách kê đầu ông cao hơn một chút, cách lấy nước sạch thấm lên môi ông từng giọt nhỏ.
- Ông ấy kiệt sức thôi, - Sáu Lì nói. - Đừng lay mạnh. Để ổng ngủ một giấc. Mình còn nhiều việc phải làm trước khi xuống núi.
Út nhìn về phía vách đá, nơi thi thể Đen nằm phủ áo mưa. Áo mưa đã khô một phần trong nắng sớm, những giọt nước còn lại sáng lên trên mặt vải. Khẩu súng hoa cải gãy nòng nằm trong bùn gần đó. Chiếc bật lửa khắc tên của hắn thì Út đã nhặt từ túi áo hắn trong lúc khép mắt cho hắn, bỏ vào túi quần mình, với một ý nghĩ chưa rõ ràng rằng có thứ phải mang xuống núi cho người ở dưới đó.
Cậu đi về phía bờ suối Đá Bàn.
Gò mộ của Tám Râu nằm ở đó từ chiều mười sáu tháng tám, khi cả nhóm chôn người chết đầu tiên trong vội vàng và sợ hãi. Sau một đêm bão, đất trên mộ đã sụt xuống một phần, những tảng đá phủ bên trên xô lệch, nhưng dấu mộ vẫn còn. Út quỳ xuống xếp lại đá, nén thêm đất ướt quanh mép, cắm lại cành cây khô làm dấu mà gió bão chưa quật ngã.
Rồi cậu đào huyệt cho Đen ngay bên cạnh.
Đất sau mưa mềm nhưng nặng. Mỗi nhát rựa và mỗi vốc đất đều làm chân bị đá đè của cậu nhói lên, cổ tay bị phiến đá cứa rát thêm. Sáu Lì không giúp được bằng tay, chỉ nằm từ xa nhắc cậu đào lệch khỏi những rễ cây lớn, nhắc chừa một khoảng cho nước mưa thoát để huyệt không thành hố sình. Năm Tịnh vẫn ngủ. Thung lũng yên tĩnh đến mức tiếng đất rơi xuống huyệt nghe rất rõ.
Út khiêng Đen tới một mình.
Thân người chết nặng hơn thân người sống rất nhiều. Cậu phải dùng một tấm áo mưa khác lót dưới lưng hắn, kéo từng đoạn qua nền đất ướt, dừng lại nhiều lần để thở. Khi đặt hắn xuống huyệt, cậu gỡ tấm phủ khỏi mặt hắn lần cuối. Gương mặt Đen trong nắng sớm nhợt nhạt, già hơn tuổi bốn mươi bảy, những nếp nhăn quanh miệng sâu như của một người đã mệt từ lâu trước khi chết. Út không tìm thấy trong gương mặt ấy kẻ cầm đầu đáng sợ của năm ngày qua nữa. Chỉ có một người đàn ông đã sống mười lăm năm trên mạng người khác đổi cho, rồi chết vì không thoát được khỏi món nợ và lòng tham của chính mình.
- Anh nằm gần anh Tám, - Út nói khẽ. - Xuống dưới đó, có gì thì tự nói với nhau.
Cậu lấp đất. Phủ đá. Cắm một cành cây làm dấu mộ như đã làm cho Tám Râu. Không bia, không tên khắc, vì trên núi này không có gì để khắc và cũng không ai trong bọn họ có quyền dựng cho nhau một tấm bia tử tế sau những việc đã làm. Hai nấm mộ nằm cạnh nhau trên bờ suối Đá Bàn, dưới tán cây còn ướt, nhìn xuống dòng suối đã trong trở lại sau bão.
Sau đó Út đi về phía vực Hóc Bà.
Đường tới mép vực trơn và đầy cành gãy. Từ trên sườn núi, cậu nhìn xuống khe đá sâu nơi xác Ba Gai kẹt lại từ đêm mưa hắn bỏ trốn, không lấy lên được. Mưa bão đã rửa qua khe, nước dưới đáy vực chảy mạnh hơn thường ngày, trắng xóa giữa những tảng đá tối. Mộ gió của Ba Gai đã được lập bên mép vực từ trước, một gò đá nhỏ với nén nhang đã tắt và chiếc khăn của hắn buộc vào cành cây. Gió sớm làm chiếc khăn phất nhẹ.
Út thắp cho hắn một nén nhang mới bằng chiếc bật lửa của Đen, che lửa bằng hai bàn tay run vì gió. Khói nhang bay xiên qua mép vực rồi tan.
- Anh Ba, - cậu nói. - Trầm trả hết rồi. Anh không cần ôm nó nữa đâu.
Cậu ngồi lại bên mộ gió một lúc. Ba người chết, ba nấm mộ trên sườn núi. Tám Râu và Đen được chôn trong đất. Ba Gai chỉ có mộ gió bên vực, xác còn kẹt dưới khe đá sâu. Mỗi nấm mộ là một cách chết khác nhau, nhưng cùng bắt đầu từ một chuyến đi đào trộm và cùng được báo trước bằng những lời dặn mà cả nhóm đã nghe rồi bỏ qua.
Khi Út quay về miệng hang, Năm Tịnh đã tỉnh.
Ông mở mắt, nhìn trời, rồi hỏi câu đầu tiên là nước còn rò không. Khi Út nói không, ông nhắm mắt lại một thoáng như trút được hơi thở giữ suốt đêm. Ông cố ngồi dậy nhưng thân người lảo đảo. Út đỡ ông tựa vào tảng đá, đưa nước cho ông uống từng ngụm nhỏ.
- Phải xuống núi trước trưa, - ông nói. - Sáu Lì gãy sườn, tao rạn tay, ở lại thêm một đêm mưa nữa là chết vì sốt chứ không phải vì Ông.
Út làm hai chiếc cáng.
Cậu chặt những cây tre non thẳng nhất tìm được quanh thung lũng, dùng dây thừng và áo mưa, võng vải của nhóm kết thành mặt cáng. Một chiếc cho Sáu Lì, một chiếc cho Năm Tịnh. Khi cậu thử nâng đầu cáng của Sáu Lì lên một mình, cậu nhận ra ngay mình không thể khiêng cả hai người xuống núi bằng sức một người mười chín tuổi đang bị thương ở chân. Đường xuống dốc trơn, hai người bị thương không tự bám được, chỉ cần một lần trượt là cả cáng lăn xuống sườn.
Đúng lúc ấy, từ phía đường mòn ngoài thung lũng, có tiếng người gọi.
Tiếng gọi xa, lẫn trong tiếng chim sau bão, nhưng là tiếng người thật. Út đứng bật dậy, tim đập mạnh. Hai người dân xã An Hảo xuất hiện ở bìa thung lũng, áo mưa vắt vai, dao rựa đeo hông. Họ là người của trạm kiểm lâm chân núi nhờ lên tiếp ứng. Khi nhóm ra khỏi vùng kín của thung lũng, sóng điện thoại đã có lại ở mỏm đá cao. Tin nhắn cầu cứu ngắn ngủi mà Út gửi trong lúc nửa tỉnh sau khi kéo lên khỏi hang, chỉ với mấy chữ có người bị thương nặng trên núi, đã tới được trạm.
Hai người dân nhìn quanh thung lũng tan hoang, nhìn miệng hang, nhìn gốc trầm, rồi nhìn hai nấm mộ mới ở bờ suối mà Út chỉ cho họ từ xa. Họ không hỏi nhiều. Người miền núi biết có những chuyện phải đưa người sống xuống trước, chuyện kể lại là việc của sau đó.
Bốn người đàn ông chia nhau hai chiếc cáng.
Sáu Lì được khiêng trước. Hắn nằm ngửa, tay lành nắm chặt mép cáng, mỗi lần cáng nghiêng qua một gốc cây là mặt hắn lại trắng đi vì đau. Nhưng suốt đường xuống, bàn tay ấy thỉnh thoảng lại tìm được tay Út khi cậu đi bên cạnh đổi vai, nắm lấy một cái ngắn như để chắc rằng cả hai còn sống. Năm Tịnh nằm trên cáng thứ hai, tay trái nẹp gỗ đặt trên ngực, mắt nhắm, thỉnh thoảng mở ra nhìn tán cây lướt qua phía trên như chào từng đoạn rừng quen thuộc của bốn mươi năm.
Út đi giữa hai chiếc cáng, chân khập khiễng nhẹ. Mỗi bước xuống dốc đều làm chỗ bị đá đè nhói lên, nhưng cậu không xin nghỉ. Cậu mang theo rất ít: chiếc bật lửa của Đen, khẩu súng gãy đã được người dân bọc lại trong áo mưa để giao cho trạm, và cây chuông đồng của Năm Tịnh mà ông nhất định không cho bỏ lại.
Từ lưng chừng núi, qua một khoảng trống giữa hai hàng cây, bản làng An Hảo hiện ra.
Út dừng lại. Mấy người khiêng cáng cũng dừng theo, không thúc giục.
Dưới chân núi, trong nắng sau bão, làng nằm nguyên vẹn. Những mái nhà nối nhau dọc theo đường đất, ruộng còn ngập nước mưa nhưng không phải nước lũ quét. Khói bếp bay lên từ nhiều nóc nhà, thẳng và chậm trong buổi sáng yên. Trẻ con đã ra sân, vài người lớn dắt trâu ra đồng, tiếng gọi nhau vọng lên rất nhỏ qua khoảng cách. Không một ai dưới đó hay biết đêm qua làng mình đứng cách một trận lụt quét đúng một phiến đá, một túi trầm được trả lại, và một thân rắn khổng lồ cuộn giữ vách hang.
Út đứng nhìn rất lâu.
Cậu hiểu ra cái giá của sự bình yên đang hiện trước mắt. Ba mạng người nằm lại trên sườn núi. Hai người bị thương đang nằm trên cáng. Một ông già đã mất bốn mươi năm đời mình để giữ cho buổi sáng như thế này được bình thường. Và một chàng trai mười chín tuổi vừa học được rằng bình yên của một làng đôi khi không có tiếng reo mừng nào, chỉ có khói bếp bay lên như chưa từng có chuyện gì.
- Đi tiếp thôi con, - Năm Tịnh nói khẽ từ trên cáng, mắt vẫn nhắm. - Người ta ở dưới đó còn phải ăn sáng. Mình xuống trễ là họ lo thêm.
Xuống tới chân núi, khi trạm kiểm lâm hiện ra sau hàng cây và có người chạy tới đỡ cáng, việc đầu tiên Út làm không phải là về nhà hay đi tìm mẹ.
Người cán bộ trực trạm nhìn đôi chân khập khiễng và gương mặt mất ngủ của cậu, định bảo cậu về nghỉ trước đã. Út lắc đầu. Cậu nói tấm biển cũ bị bẻ gãy từ ngày đầu cả nhóm vào thung lũng, và chừng nào chỗ ấy còn trống, sẽ còn người khác nghĩ rằng con đường đó là đường không ai cấm. Cậu không nói thêm về Ông Mây, về mạch nước hay về những nấm mộ trên sườn. Những chuyện đó chưa phải lúc kể ở sân trạm, giữa tiếng người gọi nhau và tiếng xe máy ngoài đường.
Cậu chỉ xin gặp người của trạm, và xin được quay lại thung lũng một lần nữa khi đường khô hơn, để dựng lại tấm biển cấm mà Đen đã bẻ gãy.