HỔ MÂY NÚI CẤM - Chương 49: Lời Nói Dối Nhân Hậu
Ngày mười chín tháng tám, Út tới nhà bà Tám Lụa vào lúc gần trưa. Xã An Hảo sau hai ngày nắng đã trở lại nhịp sống thường ngày. Đường đất khô dần ở những…
Nội dung chương
Ngày mười chín tháng tám, Út tới nhà bà Tám Lụa vào lúc gần trưa.
Xã An Hảo sau hai ngày nắng đã trở lại nhịp sống thường ngày. Đường đất khô dần ở những chỗ cao, chỉ còn vũng nước ở các ổ gà gần chợ nhỏ. Người ta phơi lúa, phơi áo mưa, sửa lại những hàng rào bị gió bão quật nghiêng. Không ai trong làng biết họ vừa đi qua một đêm suýt bị nước từ lòng núi tràn xuống. Đối với họ, đêm mười sáu chỉ là một đêm mưa lớn, cây đổ ở vài nơi, điện mất mấy giờ rồi có lại.
Căn nhà của bà Tám Lụa nằm ở cuối một con ngõ đất, mái tôn đã cũ, trước sân có giàn mướp và một cây khế già. Bà năm nay bảy mươi bốn tuổi, lưng còng, tóc bạc buộc gọn sau đầu. Khi Út bước vào sân với chiếc túi vải trên tay, bà đang ngồi lặt rau trên chiếc ghế thấp, ngẩng lên nhìn cậu một lúc mới nhận ra con trai của người bạn cũ trong xóm Núi Sập mà bà từng nghe tên.
- Con là Út, con của Hậu phải không? - bà hỏi. - Vô nhà đi con. Sao mặt mày con xanh vậy?
Út cúi đầu chào bà, đặt túi vải xuống chiếc bàn gỗ trong nhà. Trong túi là hai kỷ vật của Đen mà trạm kiểm lâm đã cho cậu mang tới sau khi làm xong những giấy tờ cần thiết. Khẩu súng hoa cải đã gãy nòng vì đòn đuôi trong đêm bão, được bọc trong một lớp vải dầu. Chiếc bật lửa khắc tên hắn đã được Út lau sạch bùn đất.
Cậu đã tập nói những lời sắp nói suốt đường từ trạm y tế tới đây.
Sự thật thì cậu thuộc nằm lòng. Đen là kẻ cầm đầu. Đen bịa món nợ ba mươi triệu để ép cậu lên núi. Đen nổ phát súng đầu tiên và phát súng cuối cùng. Đen cưa vào cội trầm, phá vỡ sự thuần phục, và chết vì chính cơn tham của mình. Nhưng sự thật ấy, nếu đặt nguyên vẹn lên bàn của một bà mẹ bảy mươi bốn tuổi vừa mất con, sẽ không làm người chết sống lại, không làm người sống nhẹ hơn. Nó chỉ để lại cho bà những năm cuối đời sống cùng hình ảnh một đứa con tội lỗi nhất, trong lúc cả làng sẽ nhắc tên hắn mỗi khi kể lại chuyến đi.
Út đã hứa với chính mình trên đường khiêng cáng xuống núi. Có những sự thật phải được giữ bởi người còn đủ sức mang nó. Cậu mang được.
- Bác Tám, - cậu nói, ngồi xuống đối diện bà. - Con mang đồ của anh Đen về cho bác.
Bà Tám Lụa dừng tay lặt rau.
Đôi mắt già của bà nhìn chiếc túi vải, rồi nhìn mặt Út, rồi nhìn ra sân như mong có thêm một người nữa bước vào sau lưng cậu. Khi không thấy ai, bà hiểu. Người mẹ không cần ai nói câu mở đầu. Bà đưa tay lên miệng, một tiếng khóc bật ra ngắn rồi bị bà cố nuốt lại, làm cả thân người còng rung lên.
- Nó đâu rồi con? - bà hỏi. - Nó nằm ở đâu?
- Anh Đen mất trong đêm bão trên núi, bác. Tụi con chôn anh trên sườn núi, gần bờ suối, đất cao, không bị nước. Có mộ, có đá phủ đàng hoàng.
Bà khóc thành tiếng. Út ngồi yên, không nói những câu an ủi rỗng. Cậu mở túi vải, lấy chiếc bật lửa ra trước, đặt vào tay bà. Kim loại lạnh và nặng. Ngón tay bà lần theo những chữ khắc trên mặt bật lửa, như đọc tên con bằng tay.
- Nó chết làm sao hả con? - bà hỏi qua nước mắt. - Nó có đau lắm không?
Đây là lúc lời nói dối nhân hậu phải được nói ra trọn vẹn, không ngập ngừng đến mức thành tàn nhẫn.
- Đêm đó nước hang dâng, núi sạt, tụi con bị kẹt, - Út nói chậm. - Anh Đen quay lại kéo con ra khỏi chỗ đá sập. Anh bị quất văng vào vách đá khi đang cứu con. Anh mất nhanh lắm bác, không đau lâu. Trước khi mất, anh có nhắc tới bác. Anh nói anh chưa về thăm bác được bữa cơm nào cho tử tế từ Tết tới giờ.
Một phần trong những lời ấy là thật theo một cách mà chỉ Út hiểu. Đen đã chết sau khi quay lại nhìn cậu. Đen đã nói lời xin lỗi. Đen đã nhắc tới cha cậu và quá khứ của hắn. Nhưng phần cứu người thì thuộc về cha cậu năm hai ngàn lẻ chín, không thuộc về Đen trong đêm mười sáu. Út đã lấy sự hy sinh của cha mình, đặt nhẹ vào cuối đời của kẻ từng được cha cứu. Nhờ đó một bà mẹ già có thể khóc cho con mình như khóc một người con trai bình thường, không phải một kẻ cầm đầu đẩy bốn người vào chỗ chết.
Cậu biết đó là một lời nói dối. Cậu cũng biết mình sẽ mang nó suốt đời, cùng với Năm Tịnh và Sáu Lì, những người duy nhất còn biết đầy đủ sự thật.
Bà Tám Lụa ôm chiếc bật lửa vào ngực, khóc lâu. Khẩu súng gãy bà không mở ra xem. Bà chỉ sờ qua lớp vải dầu một lần, rồi đẩy nó sang một bên bàn như không muốn nhìn thứ đã đi theo con mình lên núi.
- Nó hồi nhỏ sợ ma lắm, - bà nói, giọng đứt quãng. - Lớn lên làm kiểm lâm, ai cũng tưởng nó gan. Nó đi chuyến này, nó nói với bác là đi công chuyện mấy bữa rồi về. Bác còn gói cho nó nắm cơm. Ai dè.
Út ngồi với bà thêm một lúc, rót cho bà ly nước, nghe bà kể những chuyện nhỏ về Đen mà cậu chưa từng biết: hắn từng sửa mái nhà cho bà bằng tiền lương tháng đầu, từng sợ tiêm thuốc, từng thích ăn canh chua cá. Những chuyện ấy không làm tội của hắn nhẹ đi trong lòng cậu. Nhưng chúng làm hắn trở thành một con người trọn vẹn hơn trong ngày được mẹ khóc, và Út nghĩ cha cậu, người đã quay lại cứu hắn mười lăm năm trước, có lẽ cũng từng nhìn thấy phần người đó.
Khi ra khỏi nhà bà Tám Lụa, nắng đã lên cao. Út đứng trong sân một lúc, nhìn giàn mướp xanh sau bão, rồi mới quay lại trạm y tế huyện Tịnh Biên.
Sáu Lì nằm ở phòng trong, ngực được bó cố định, hai xương sườn gãy đã được chụp và nẹp đúng cách. Vợ hắn, chị Hồng, đã từ Châu Đốc lên, ngồi bên giường gọt trái cây. Con trai hắn, bé Bảo chín tuổi, ngồi ở cuối giường nghịch chiếc xe đồ chơi, thỉnh thoảng lại nhìn dải băng trên ngực cha với vẻ sợ sệt.
Thấy Út vào, Sáu Lì cười yếu.
- Đi thăm bà Tám rồi hả?
- Dạ. Em trao đồ rồi.
- Nói sao?
- Nói như em đã tính.
Sáu Lì nhìn cậu một lúc, rồi gật đầu rất nhẹ. Hắn không hỏi thêm. Có những việc giữa những người sống sót không cần nhắc lại thành lời.
- Anh khỏe hơn chưa? - Út hỏi.
- Bác sĩ nói giữ cái sườn này yên mấy tuần là nó liền. Đau thì đau, còn thở được là mừng. - Hắn nhìn xuống dải bó ngực, rồi nhìn vợ con mình. - Út, khi lành hẳn, anh không vào rừng sâu nữa đâu. Hồi trước anh tưởng mình giải nghệ rồi mà vẫn còn ham một chuyến cuối. Không có chuyến cuối nào hết. Từ nay ai thuê anh đi săn, đi trầm, anh chỉ họ ra chợ mà mua đồ giả về chưng cho vui.
Chị Hồng đặt tay lên tay hắn, không nói gì. Bé Bảo leo lên ngồi gần cha hơn.
Út rời phòng Sáu Lì khi nắng chiều đã nhạt. Ở phòng bên kia của trạm y tế, Năm Tịnh đã tỉnh hẳn.
Ông ngồi trên giường, lưng tựa vào gối, cẳng tay trái đã bó bột trắng tới gần khuỷu, đặt trên một chiếc khăn gấp. Gương mặt ông vẫn còn mệt, nhưng ánh mắt đã trở lại sự tỉnh táo quen thuộc. Thấy Út, ông chỉ vào chiếc ghế bên giường.
- Ngồi đi. Chân mày đi còn cà nhắc đó.
- Chân con đỡ rồi ông. Mai mốt là hết.
- Ừ. Người trẻ lành nhanh. Còn người già thì được khuyên ở lại đồng bằng dưỡng thương cho khỏe hẳn, có cơm có thuốc, khỏi leo núi nữa. - Ông nói câu cuối với một nụ cười mỏng, như đã nghe lời khuyên ấy nhiều lần trong hai ngày qua và đã chán.
Út ngồi xuống.
- Ông tính sao? - cậu hỏi, dù đã đoán được câu trả lời.
- Tao về am.
- Tay ông chưa lành. Đường lên đỉnh còn xa. Ở lại đây thêm ít lâu, chờ bột khô hẳn, có người chăm, không tốt hơn sao?
Năm Tịnh lắc đầu.
- Đồng bằng tốt cho người dưỡng bệnh. Nhưng tao không phải người dưỡng bệnh ở đồng bằng. Tao là người giữ núi. Bốn mươi năm rồi, chỗ của tao ở trên đó. Tay này lành chậm cũng lành. Núi không chờ người ta khỏe hẳn mới có chuyện đâu con.
Ông nhìn ra cửa sổ trạm y tế, nơi từ xa có thể thấy một mảng xanh mờ của dãy Bảy Núi sau những mái nhà. Trong ánh mắt ấy không có sự bướng bỉnh của một ông già không nghe lời bác sĩ. Chỉ có một người biết rõ đời mình thuộc về đâu, và biết thời gian còn lại không nhiều đến mức có thể ở sai chỗ.
- Với lại, - ông nói thêm, - tao ở trên đó, đứa nào muốn vào thung lũng còn phải đi qua tiếng chuông của tao.
Trước khi Út rời trạm vào cuối ngày hôm đó, Năm Tịnh gọi cậu lại gần. Ông đã nhờ người đưa từ chân núi lên một bọc vải nhỏ, trong đó là chiếc khăn rằn cũ của chính ông, chiếc khăn đã quấn quanh cổ ông suốt đêm bão, đã ướt mưa, đã dính bùn miệng hang, nay được giặt sạch và gấp gọn. Ông tháo nó ra khỏi bọc bằng tay phải, đặt vào hai tay Út.
Khăn đã sờn ở các mép, mùi nắng và mùi vải cũ nhẹ như mùi của am tranh trên đỉnh.
- Cái này tao mang nhiều năm rồi, - ông nói. - Nay cho con.
Út cầm khăn, chưa hiểu hết ý ông.
Năm Tịnh nhìn thẳng vào cậu và nói câu mà cậu sẽ nhớ suốt quãng đời còn lại ở chân núi.
- Núi này, từ nay có thêm một người giữ. Khi nào nghe đọt cây rạp trong đêm lặng gió, con biết phải làm gì rồi đó.