HỒ TINH DƯỚI ĐÁY HỒ TÂY - Chương 50: Trả búa về cho sông

Ngày 18 tháng 3 năm 2027, chiếc búa đồng Đông Sơn rời tàu khảo sát lần cuối cùng. Buổi sáng hôm ấy ở Hà Nội có nắng xuân muộn, thứ nắng mỏng và ấm đầu…

Nội dung chương

Ngày 18 tháng 3 năm 2027, chiếc búa đồng Đông Sơn rời tàu khảo sát lần cuối cùng.

Buổi sáng hôm ấy ở Hà Nội có nắng xuân muộn, thứ nắng mỏng và ấm đầu tiên sau nhiều tuần lạnh xám. Đỗ Trọng Nghĩa tới Bảo tàng Lịch sử Quốc gia từ sớm, cùng Lê Văn Thắng và đại diện của đội khảo sát, để hoàn tất thủ tục hiến tặng mà cả đội đã thống nhất từ sau khi hồ sơ khoa học được niêm phong. Chiếc búa được đặt trong một hộp gỗ lót vải, mang theo từ tàu khảo sát bằng hai tay của chính Thắng, người đã giữ nó suốt từ năm 2019.

Thủ tục diễn ra trong một phòng làm việc yên tĩnh của bảo tàng, với đầy đủ biên bản, ảnh chụp hiện vật và xác nhận nguồn gốc theo đúng quy định tiếp nhận. Một cán bộ chuyên môn của bảo tàng kiểm tra hiện vật cẩn thận, ghi lại trọng lượng, kích thước, tình trạng bề mặt và những vệt xanh của đồng cổ đã nằm lâu dưới đáy nước. Nghĩa nhìn chiếc búa nằm trên lớp vải trong ánh sáng trắng của phòng kiểm kê và nhận ra nó trông nhỏ hơn nhiều so với hình ảnh của nó trong đêm 12 tháng 12. Trong đêm ấy, nó đã là thứ duy nhất đứng giữa một người đàn ông và mặt nước đen. Sáng nay, nó chỉ là một hiện vật cổ, lặng lẽ và khiêm nhường, chờ được đặt vào một tủ kính cùng những hiện vật khác của cùng một thời đại xa xưa.

Phần quan trọng nhất của biên bản là dòng ghi nguồn gốc. Nghĩa đọc lại dòng ấy hai lần trước khi Thắng ký vào phần người hiến tặng.

Hồ sơ hiện vật ghi: vớt tại đáy sông Hồng, gần cầu Long Biên, năm 2019.

Không một chữ nào trong biên bản hiến tặng nhắc tới đêm cao trào bằng ngôn ngữ giật gân. Biên bản ghi nhận hiện vật từng thuộc sở hữu cá nhân của người hiến tặng, từng được sử dụng trên tàu khảo sát, và được đội khảo sát thống nhất hiến tặng để phục vụ lưu giữ và nghiên cứu. Phần lịch sử đầy đủ của chiếc búa, gồm cả vai trò của nó trong đêm 12 tháng 12 năm 2026, đã nằm trong hồ sơ nội bộ niêm phong mà Nghĩa và tiến sĩ Trịnh Ngọc Lan hoàn thiện hồi tháng một. Bảo tàng tiếp nhận hiện vật với đầy đủ hồ sơ kèm theo ở cấp độ quản lý phù hợp. Những người cần biết sẽ biết. Những người chỉ tới xem một chiếc búa đồng cổ trong tủ kính sẽ thấy một chiếc búa đồng cổ trong tủ kính, và như vậy là đủ.

- Anh có tiếc không? Nghĩa hỏi Thắng khi hai người đứng ở hành lang của bảo tàng sau khi thủ tục hoàn tất.

Thắng nhìn qua ô cửa kính về phía phòng trưng bày đang được sắp xếp ở tầng dưới, nơi những hiện vật Đông Sơn khác đã nằm yên trong ánh sáng dịu từ nhiều năm trước.

- Không, Thắng nói. Nó ở với tôi bảy năm là đủ rồi. Tôi vớt nó lên khỏi đáy sông, nó trả tôi một mạng người trên mặt hồ. Huề. Từ giờ nó ở đây, người ta trông giữ tử tế hơn tôi. Tôi giữ nó trên tàu, treo ở cửa khoang, nắng sương dầu máy đủ cả. Ở đây nó được yên.

- Nó không còn là đồ cũ treo trên tàu nữa, Nghĩa nói.

- Nó chưa bao giờ chỉ là đồ cũ, Thắng đáp. Tôi nói câu hôm ấy là nói cho nhẹ lòng. Anh biết mà.

Nghĩa gật đầu. Cả hai đều nhớ buổi chiều ngày 21 tháng 12 trên tàu, khi Thắng chạm vào thân búa và nói nó cứu người xong rồi, giờ chỉ là đồ cũ thôi. Câu nói ấy là cách của Thắng để khép lại một đêm dài. Buổi sáng nay là cách của cả đội để khép lại một hành trình dài hơn nhiều: một vật vớt lên từ đáy sông Hồng, qua bảy năm treo yên ở cửa một khoang lái. Qua một đêm duy nhất vang lên để giữ một con người ở lại trên mặt nước, và cuối cùng trở về với nơi chốn đúng đắn của nó trong ký ức chung của nhiều người, thay vì trong tay riêng của một người.

Hà gửi tin nhắn chúc mừng cả đội từ văn phòng, kèm một tấm ảnh chụp trang bìa của hồ sơ đã niêm phong trong kho lưu trữ. Bảo, đang ở công trình sông ngoài Hà Nội, gọi điện tới trong giờ nghỉ trưa.

- Thế là búa về bảo tàng rồi hả anh? Bảo hỏi qua điện thoại, tiếng gió và tiếng công trình lao xao ở phía sau. Em nghe tiếng lục lạc của em kêu đây này. Em treo nó ở túi đồ, cả đội ở đây ai cũng hỏi. Em bảo là đồ lấy may của một ông anh khó tính tặng, không có phép gì hết, ai cũng cười.

- Búa về bảo tàng rồi, Nghĩa nói. Đội mình xong hết phần việc với nó. Em giữ nhịp làm việc của em. Hè này đội tụ lại ở Hà Nội, em về nhé.

- Em về, Bảo nói. Em hứa.

Chiều cùng ngày, Nghĩa một mình trở lại bến Quảng An.

Anh không báo trước cho ai. Không có công việc nào chờ anh ở đó. Tàu khảo sát đã chuyển sang một đợt bảo dưỡng ở nơi khác, bến tàu trở lại vẻ yên tĩnh thường ngày của nó với vài con thuyền nhỏ của ngư dân. Những cuộn lưới phơi trên bờ và tiếng trẻ con chơi ở xa vọng lại qua một buổi chiều xuân. Nghĩa đi bộ dọc theo con đường ven hồ mà đội của anh đã đi qua không biết bao nhiêu lần trong mùa đông, qua chỗ trạm liên lạc tạm từng đặt. Qua đoạn bờ nơi Bảo đã đứng giữ máy suốt đêm cao trào, và dừng lại ở một điểm nhìn quen thuộc ra vùng nước ngoài khơi bán đảo Quảng An.

Vùng nước Vũng Cáo nằm ở phía xa, yên tĩnh trong nắng chiều. Trên bản đồ quản lý, nó là một vùng bảo tồn di sản dưới nước với tọa độ và đường ranh rõ ràng. Trên mặt hồ thật trước mắt Nghĩa, nó chỉ là một khoảnh nước như mọi khoảnh nước khác, phẳng, sáng và hiền. Không có dấu hiệu nào cho người qua đường biết rằng dưới đáy của nó là một gò xương hàng ngàn năm tuổi đã được chôn vùi vĩnh viễn. Một sào huyệt cổ đã sập hẳn trong một đêm đông, và một hồ sơ vừa được niêm phong trong một căn phòng lưu trữ ở giữa thành phố.

Sương đã tan từ lâu. Mùa đông đã qua hẳn. Mặt hồ trong nắng xuân muộn mang một màu sáng khác hẳn màu xám đục của những đêm tháng mười hai, và những người dân chài đang thu lưới ở phía xa làm việc của họ bằng những động tác thong thả của một buổi chiều bình thường. Nghĩa đứng nhìn mặt hồ và chủ động lắng nghe, như anh đã từng làm trong những lần quay lại đây một mình từ sau đêm cao trào. Anh nghe tiếng nước vỗ rất nhẹ vào bờ đá. Anh nghe tiếng gió qua những tán cây ven hồ. Anh nghe tiếng trẻ con, tiếng xe ở con đường phía sau lưng và tiếng một con chim nước kêu ngắn ở phía xa.

Từ một ngôi chùa ven hồ, tiếng chuông chiều vọng lại.

Đó cũng là tiếng đồng, trầm và ngân, lan qua mặt nước trong ánh sáng đang ngả vàng. Nhưng đó là tiếng đồng của đời sống thường ngày, tiếng chuông gọi một buổi chiều yên tĩnh của thành phố, thứ âm thanh đã vang lên ở bờ hồ này qua không biết bao nhiêu mùa xuân trước khi Nghĩa và đội của anh tới đây. Và sẽ còn vang lên qua nhiều mùa xuân nữa sau khi hồ sơ của họ đã nằm yên trong kho lưu trữ. Nghĩa đứng yên nghe hết hồi chuông, và thấy lòng mình hoàn toàn bình tĩnh. Không có gì trong âm thanh ấy đòi hỏi anh phải đáp lại. Không có gì trong mặt nước trước mặt anh chờ đợi một điều gì.

Anh nghĩ về tất cả những người đã đi qua mùa đông ấy cùng mình, và thấy biết ơn một cách lặng lẽ rằng câu kết của câu chuyện này không phải là một nấm mồ nào. Thắng đã trả chiếc búa về cho nơi nó thuộc về. Bảo đang lặn ban ngày trên một dòng sông trong, với một chiếc lục lạc đồng nhỏ kêu leng keng ở túi đồ nghề. Hà đang giữ những dữ kiện của đội ở đúng nơi chúng cần được giữ. Cụ Đào Văn Mùi, người đầu tiên nói đúng về vùng nước này, vẫn ở làng Quảng An của cụ, với lệ cũ của dân chài mà giờ đây đã nằm trong một hồ sơ chính thức. Hoàng Đức Long đã phải chịu trách nhiệm cho những quyết định của mình bằng đúng thứ giấy tờ mà ông ta từng dùng để che giấu chúng. Và Hồ Tây, sau tất cả, vẫn là Hồ Tây của thành phố này, của những người dân chài, của những buổi chiều xuân như buổi chiều nay.

Trước khi rời bến, Nghĩa ghé vào một quán nước nhỏ ven đường, quán mà cả đội từng ngồi rất nhiều lần trong những ngày chờ quyết định phong tỏa hồi tháng mười hai. Bà chủ quán nhận ra anh, hỏi thăm đội khảo sát dạo này đi đâu mà lâu không thấy ghé. Nghĩa cười, nói đội đã chuyển sang công trình khác, công việc ở vùng nước này đã xong và vùng nước đã được giữ lại làm vùng bảo tồn. Bà chủ quán gật đầu, rót thêm trà và nói một câu bình thường của người sống lâu bên hồ: giữ lại được là tốt, hồ này nhiều chỗ phải giữ, không phải chỗ nào cũng xây được. Nghĩa nghe câu nói ấy và thấy nó đúng một cách giản dị, đúng như mọi điều quan trọng nhất của mùa đông vừa qua cuối cùng đều đúng một cách giản dị khi được nói ra trên bờ, vào ban ngày, giữa đời sống thường ngày.

Nghĩa đứng thêm một lúc nữa bên bờ, cho tới khi nắng chiều chạm vào mặt nước thành một lớp sáng mỏng cuối cùng của ngày. Rồi anh quay bước đi, trở về con đường ven hồ, trở về với thành phố và những công việc bình thường đang chờ mình ở phía trước.

Phía sau lưng anh, mặt hồ phẳng lặng, không một gợn sóng nào trả lời.

---

Chương khác

Xem thêm